Thứ năm, ngày 26 tháng một năm 2012

NHỮNG GƯƠNG MẶT TẾT

1. Tôi cực kỳ thích tấm hình này. Cứ như một cảnh trích ra từ phim vậy. Mà quả thực nó rất cinema. Hay cuộc sống vốn dĩ đẹp hơn cả phim ảnh rồi?

Ảnh do Reuters chụp tại một nhà ga đường sắt ở Hefei (Trung Quốc) ngày 6.1 vừa qua trong thời điểm hàng trăm triệu người Trung Quốc về quê đón xuân Nhâm Thìn.


2. Bánh chưng có thể được coi là gương mặt Tết? Đương nhiên, nếu thiếu bánh chưng thì còn gọi gì là Tết Việt Nam nữa? Tôi thích bánh chưng, có thể chén ngay nửa cái.
Hôm 1 Tết, có người bạn thân nhắn tin: Tết ăn ít bánh chưng thôi kẻo tăng cân đấy.
Hehe, nhịn làm sao được bánh chưng?
Ảnh của Khâm/Reuters chụp ở làng Tranh Khúc hôm 14.1.

3. Khuôn mặt hân hoan của những vũ công Indonesia biểu diễn đón chào Năm mới
ở Solo, Trung Java, ngày 15.1.

Ảnh của AP

4. Gương mặt bình thản, nhưng vẫn ẩn chứa chút hồi hộp, lo âu của chị Tseng khi đi siêu âm thai nhi ở bệnh viện Adventist (Đài Loan). Người phụ nữ này sẽ sinh con trong năm Rồng. Nhâm Thìn sẽ là năm mà Châu Á chứng kiến "baby boom" (sự bùng nổ trẻ sơ sinh), vì người ta tin rằng trẻ con tuổi Rồng sẽ thông minh và hơn người.
Ảnh của AP

5. Không nhìn rõ nét mặt của cả người bán lẫn người mua trong tấm hình chụp ở khu phố cổ của Hà Nội trong những ngày giáp Tết. Nhưng không khó lắm để đoán ra tâm trạng của họ.
Ảnh của Bloomberg

6. Chàng trai nấp mặt đằng sau con rồng bằng băng mạ vàng được gắn ngọc trai và kim cương đen là Angelito Araneta Jr. - người được dân Philippines mệnh danh là "Đầu bếp Karat". Con rồng đặc biệt chào mừng năm Nhâm Thìn này có giá 13.863 USD.
Ảnh của Reuters chụp tại Manila (Philippines) hôm 20.1.

7. Múa lửa ở khu phố Tàu tại Manila hôm 22.1.
Ảnh của Getty Image

8. Một đất nước trật tự như Singapore mà cũng có cảnh chen lấn như thế này. Đơn giản là vì người Sing tin rằng ai cắm được hương vào chiếc lư hương tại chùa Quan Âm đúng khoảnh khắc giao thừa thì sẽ gặp nhiều may mắn trong năm mới.
Ảnh Reuters.

9. Bé gái sún răng nhảy múa trong lễ hội sáng mùng Một ở Bắc Kinh.
Ảnh của Getty Images.

10. Trẻ con Bình Nhưỡng vui chơi trên phố hôm mùng Hai Tết. Trên gương mặt của các em không còn bóng dáng của đại tang diễn ra cách đây không lâu.
Ảnh AP


Nguồn:
Lunar New Year 2012




Link to full article

Đêm Ba Mươi

Thơ - Trần Mộng Tú





Tôi đi tìm tuổi trẻ
nhặt trong đêm ba mươi
tuổi trẻ nhìn lại tôi
bàn tay như lá mỏng

Cúi nhìn đầu ngón tay
những hoa văn bối rối
tuổi trẻ theo kẽ tay
trôi qua không tiếng động

Tôi gầy như nén nhang
đêm ba mươi châm lửa
tuổi trẻ đã đi qua
hương thơm như lệ ứa

Tuổi trẻ gói trong lá
hồn xanh rền bánh chưng
đêm ba mươi bóc bánh
chạm vào nỗi ngập ngừng

Mồng một chờ trước cửa
dắt tuổi trẻ đi xa
tôi giơ tay níu lại
đêm ba mươi khóc òa.

tmt

Đêm Ba Mươi Tân Mão
1/22/2012


Link to full article

Ngày Xuân tản mạn với nhà văn Phạm Phú Minh *

Mặc Lâm, biên tập viên RFA
Trong không khí mùa xuân mới đang về, Mặc Lâm có buổi mạn đàm với nhà văn Phạm Phú Minh, nguyên chủ nhiệm kiêm chủ bút tuần báo Thế Kỷ 21 về những kỷ niệm của ba ngày Tết trước năm 1975.
Chơi bầu cua cá cọp trong ngày Tết. Photo courtesy of diendantrunghochnc.com

Câu chuyện đầu xuân này mong rằng sẽ gợi lại chút gì đó chừng như không còn hiện diện trong những ngày Tết hôm nay bởi đời sống công nghiệp ngày một lấn sâu vào xã hội Việt Nam chúng ta. Mời quý vị theo dõi sau đây.
Đời sống công nghiệp và phong tục ngày Tết
Mặc Lâm: Thưa anh, chúng ta có cái phong tục của Việt Nam từ bao đời nay, đó là chuẩn bị hoa Tết, những người đàn ông thì lo cho hoa, những cành hoa đẹp nhất, cũng như bàn thờ tổ tiên, còn người đàn bà thì lo gói bánh tét, bánh chưng cùng những chuẩn bị linh tinh khác mà cái cảm xúc văn hóa không thể thiếu trong ngày Tết này.
Tuy nhiên, theo chúng tôi nhận thấy hiện nay trong đời sống công nghiệp ở trong nước bây giờ đã làm cho các bà nội trợ không còn cái cơ hội thực hiện những điều như ngày xưa nữa. Mọi thứ, chẳng hạn như bánh tét cũng ra siêu thị mua, rồi hoa quả bánh trái bất cứ cái gì cũng có siêu thị lo hết.
Có một nỗi lo ngại là nếu tình trạng đó xảy ra hoài, đời sống công nghiệp đè lên đời sống truyền thống, thì cái Tết sẽ dần dần mất đi những hình ảnh đẹp của nó như khi mà bà nội trợ ngồi chung với con cái canh nồi bánh tét thì sẽ có nhiều chuyện để nhắc nhở với con cháu. Theo anh, điều đó có lâu ngày chầy tháng sẽ làm mất hẳn nét Tết cổ truyền hay không, thưa anh?
Gia đình quây quần gói bánh chưng ăn Tết . Photo courtesy of Wikipedia.
Phạm Phú Minh: Câu hỏi này tôi nghĩ là rất hay, bởi vì không chỉ thời đại này mà thời đại nào chúng ta cũng phải đương đầu với sự thay đổi, nó sẽ làm phai dần đi những sự việc quá khứ và sinh ra những cái mới trong đời sống. Riêng về cái Tết thì như chúng ta đều biết, những việc như lo cây kiểng, lo làm bánh trái, trang hoàng nhà cửa... tất cả những việc đó trở thành truyền thống với dân mình rồi, dân tộc Việt Nam vẫn làm đều đặn mỗi khi năm hết Tết đến. Cái đó nó tạo ra không khí Tết.
Tôi thấy anh vừa nêu lên một vấn đề rất đúng, là những chuyện chuẩn bị Tết nó là nét văn hóa riêng của dân tộc mình. Nhưng đời sống công nghiệp như anh vừa nói đó thì tôi nghĩ nó chưa đủ sức để mà làm thay đổi nét truyền thống của chúng ta đâu.
Theo tôi, cái siêu thị tự nó chưa phá vỡ được cái truyền thống chuẩn bị Tết của người Việt Nam. Đó chỉ mới là một cái mảng của đời sống đô thị, trong khi đó thì đại đa số người dân Việt Nam nhất là ở nông thôn thì tôi nghĩ là họ vẫn giữ nguyên tập tục như là gói bánh tét bánh chưng, trồng hoa để chuẩn bị Tết, hay là trang hoàng nhà cửa, sửa sang vườn tược v.v. để đón Xuân. Theo tôi những việc đó đại đa số dân mình vẫn còn giữ được.
Về đời sống công nghiệp đương bắt đầu ở xã hội Việt Nam thì chỉ mới tại một số đô thị thôi, tôi cho là chưa đủ sức để thay đổi truyền thống của chúng ta một cách đáng kể.
Nhưng mà, thưa anh, siêu thị thì đã sao? Thì nó cũng chỉ là một phiên chợ Tết thôi chớ gì? Nó cũng bán hoa quả, cũng bán bánh chưng bánh tét, các loại bánh mứt... Hồi xưa thì ông bà chúng ta cũng đi chợ Tết, cũng đi mua sắm những thứ đó để về ăn Tết nếu như không làm ở nhà. Bây giờ có siêu thị thì đó cũng là một loại chợ Tết, tôi nghĩ cũng vậy thôi, đó là một loại chợ Tết tân tiến hóa. Chính nó sẽ không làm gì thay đổi được cái Tết cổ truyền của chúng ta mấy đâu.
Truyền thống du Xuân
Mặc Lâm: Thưa anh, trong thời gian gần đây người dân có khuynh hướng đi du lịch nước ngoài trong những ngày Tết thay vì chỉ loanh quanh trong nước như xưa. Anh có chia sẻ gì trước hiện tượng này ạ?

Du khách trên đường đến Chùa Hương. AFP photo/Hoang Dinh Nam.
Phạm Phú Minh: Rất cảm ơn câu hỏi này của anh, bởi vì nó gợi cho tôi một tập tục rất xưa của người Việt Nam, đó là du Xuân.
Du Xuân là một ý niệm và cũng là một sinh hoạt đã có từ lâu trong văn hóa Việt Nam, bởi vì trong nền văn minh nông nghiệp hồi xưa người dân quanh năm bám lấy ruộng vườn, không mấy khi được ra khỏi lũy tre làng, cho nên Tết là cái dịp duy nhứt trong năm để được đi chơi xa hoặc gần. Đó có thể là một cuộc tham dự lễ hội ở làng bên, hay là đi viếng các đền, chùa nổi tiếng, hoặc là những nơi có phong cảnh hữu tình, hoặc là đi về thăm quê ngoại, đi thăm bạn bè... Tết thì được nghỉ việc, người ta liền nghĩ đến chuyện đi chơi một nơi nào đó.
Thành thử du Xuân là một nhu cầu thoát ra khỏi cảnh trí quen thuộc nhàm chán mà mình đã ở và làm việc trong đó quanh năm suốt tháng, thì nó đã trở thành truyền thống của dân Việt Nam mình rồi. Tôi nghĩ là đi xa hay đi gần thì cũng vậy, người dân có nhu cầu phải di chuyển trong mấy ngày Tết.
Tôi nhớ những cái Tết trước 1975, dân Sài Gòn có khuynh hướng đi chơi ở Đà Lạt, ở Vũng Tàu, Nha Trang, hoặc là ai có gốc gác ở miền Lục Tỉnh hoặc là Miền Trung thì thường thực hiện một chuyến về quê ăn Tết, mà về bản chất thì tôi cho cũng là một chuyến du Xuân. Việc đồng bào trong nước bây giờ đang có khuynh hướng hay đi Thái Lan hay là các nước trong vùng Đông Nam Á trong dịp Tết thì tôi thấy đó cũng là chuyện tiếp nối truyền thống, nhưng trong khung cảnh và phương tiện của ngày hôm nay mà thôi. Bản chất của những chuyến đi đó cũng là chuyến du Xuân, như ông bà chúng ta đã du Xuân ngày xưa nhưng bây giờ địa bàn được nới rộng ra, người dân có được khả năng và phương tiện để đi chơi xa hơn một chút, thì họ thực hiện một cuộc du Xuân mới vậy thôi, chớ tôi nghĩ nó cũng không khác gì cái truyền thống du Xuân ngày xưa.
Trò chơi Đỏ Đen
Hội đánh bài chòi trong lễ hội đền Lương Văn Chánh - Ảnh: KIM SA/Báo Phú Yên điện tử.
Mặc Lâm: Anh có thể nhắc lại những kỷ niệm mà anh nhớ nhứt trong những Tết của quê hương anh trong những lễ Tết của Miền Trung vào những năm xưa trước khi cuộc chiến kết thúc hay không, thưa anh?
Phạm Phú Minh: Tôi là người Miền Trung, cụ thể hơn là người Quảng Nam, sống ở Quảng Nam từ hồi còn nhỏ, đã ăn nhiều cái Tết ở quê hương rồi.
Về phương diện xã hội, nhiều tập tục đặc biệt trong ngày Tết, nếu so sánh với Miền Bắc thì Miền Trung ít hơn, không có những lễ hội rầm rộ về mùa Xuân. Tôi nghĩ cái đó là sự khác biệt tất nhiên thôi, vì Miền Bắc vốn là cái nôi văn hóa ngàn đời của dân tộc Việt Nam, ở đó đã nảy sinh và truyền lại cho đời sau nhiều tập tục cũ, trong khi đất Miền Trung và xa hơn nữa là đất Miền Nam là những đất mới, bề dày văn hóa chưa nhiều lắm, cho nên những sinh hoạt, những tập tục ngày Tết có phần đơn giản.
Nhưng mà tôi có một nhận xét chung là người Việt Nam rất mê cờ bạc và Tết là một dịp thuận tiện để thực hiện những trò chơi làm thỏa mãn nhu cầu đỏ đen của người mình. Hầu như gia đình nào cũng có một sòng bạc nho nhỏ để chơi với nhau, hoặc là bạn bè tới cùng nhau gầy một sòng xâm hường, hay đánh các-tê, chơi sóc dĩa...
Còn ngoài xã hội thì có những trò chơi đỏ đen ở nơi công cộng, đại khái như ở Hội An là nơi chúng tôi đi học hồi nhỏ thì ngày Tết nơi nào trong phố cũng có những bàn bầu cua cá cọp, hoặc xóc dĩa. Nhưng có điểm đặc biệt mà tôi nhớ hoài, không quên được, là ở Hội An trong ngày Tết có một trò chơi gọi là Bài Chòi. Bài Chòi có nghĩa là đánh bài trong một cái chòi và đó là một trò chơi tập thể. Tết nào người ta cũng dựng lên một số chòi ở trong thành phố để bày trò chơi này.
Khi vào trò chơi thì người tham dự ngồi hai bên chòi trên những dãy ghế cao dần lên, ở giữa có một người xướng lên những con bài rút được, mà anh ta xướng lên bằng những câu thơ nghe rất thú vị, ngộ nghĩnh. Tôi nghĩ Bài Chòi là một nét văn hóa hiếm hoi trong các trò chơi cờ bạc ở nước ta.
Pháo Tết
Đốt pháo ngày Tết. Photo courtesy of Nguyễn Hữu Tiến's Site.
Mặc Lâm: Vâng. Thưa anh, anh cũng vừa nhắc đến trò chơi bầu cua cá cọp thì thú thật với anh là nó đeo duổi tôi từ mấy chục năm nay, là vì hồi nhỏ tôi mong sao được ngày Tết để tôi ngồi trước bàn bầu cua cá cọp, là vì 6 cái hình trái bầu, con nai, con tôm, con cá, con cua, con gà nó đẹp lắm vì màu sắc sặc sở của nó, rồi cái tâm trạng hồi họp khi chờ đợi nhà cái giở nắp trình làng những con gì hiện ra có trúng với con gì mình đặt hay không. Hình ảnh bầu cua cá cọp đó nó làm cho ký ức mình gắn chặt với vùng quê hương của mình, mà nếu mất cái trò chơi đó thì cái Tết đối với tôi nó mất đi ít nhứt là 50%.
Bên cạnh bầu cua cá cọp còn có tiếng pháo nữa. Đón giao thừa mà không có pháo thì kể như không có giao thừa. Và sau này từ 1995 tới nay đất nước đã không còn cho đốt pháo nữa, thì khi cấm đốt pháo như vậy mình không còn nghe được mùi pháo, cái mùi thật quyến rũ đối với tuổi thơ. Như vậy là đời sống công nghiệp mỗi ngày nó làm mai một dần dần những ký ức đó. Có người nói đốt pháo không có lợi gì hết mà chỉ hại thôi. Theo anh thì đốt pháo có hại không?
Phạm Phú Minh: Tôi thì cũng giống như anh vậy. Tết với pháo là phải đi đôi với nhau. Từ hồi nhỏ ngửi thấy mùi pháo là mình thấy Tết rồi, vui lắm. Tôi cũng đã sống ở Sài Gòn một quãng thời gian từ năm 1988 cho đến lúc tôi đi Mỹ. Tôi đã chứng kiến những cái Tết người ta đốt pháo thật kinh khủng anh ạ, đến độ trong đêm giao thừa mình như không thở được. Nhà ở trong đường hẻm mà bốn phía khắp Sài Gòn đều nổ tung lên, khói tràn ngập như trận cháy lớn vậy. Tôi nhớ hồi đó trong nhà có một cô cháu mới sanh một em bé mà khói tràn ngập khắp nơi, cô cháu phải bồng em bé chạy tuốt lên sân thượng để có một chút không khí loãng hơn để thở.
Qua những cái Tết như thế tôi thấy chuyện cấm đốt pháo cũng có cái lý do của nó. Đó là chưa kể hỏa hoạn hay và gây thương tật cho người đốt. Đốt pháo mà gây ô nhiễm và nguy hiểm cho cả một thành phố như vậy thì tôi thấy là quá đáng thật.
Nhạc Xuân
Nhạc sĩ Phạm Đình Chương. Photo courtesy of cafevannghe.wordpress.com.

Mặc Lâm: Vâng. Nói tới pháo thì mình nghĩ tới âm thanh và nó cũng gợi cho tôi một nỗi nhớ khác là hình như trước 1975 bên cạnh tiếng pháo còn có tiếng nhạc nữa đó anh. Tôi cũng nhớ là hồi xưa có máy cassette nho nhỏ mở nhạc suốt từ đêm giao thừa cho tới mùng hai những bản nhạc Xuân làm cho không khí trong gia đình vui hẳn lên vì hình như người ta thích nhạc Xuân lắm. Anh có kỷ niệm nào về những bản nhạc Xuân trước năm 1975 không, thưa anh?
Phạm Phú Minh: Thưa anh, kỷ niệm thì nhiều anh ạ, bởi vì tôi cũng giống như anh, đã được nuôi dưỡng trong cái nền âm thanh đó. Tết thì phải có những bản nhạc Xuân. Nhạc Xuân là một đóng góp quan trọng vào không khí Tết, gây cảm giác tưng bừng lên vui vẻ, kích động tâm lý khiến con người vui hơn trong ngày Xuân. Tuy lịch sử tân nhạc Việt Nam chúng ta cũng mới thôi, được khoảng bảy chục năm, nhưng nhạc Xuân cũng đã trở thành một yếu tố quan trọng cho ngày Xuân, ngày Tết của dân tộc.
Trong vô số các bản nhạc xuân, tôi cho bài Ly Rượu Mừng của nhạc sĩ Phạm Đình Chương là bản nhạc quan trọng nhất đối với cái Tết của Việt Nam. Nếu tôi nhớ không lầm thì bài đó được nhạc sĩ Phạm Đình Chương viết khoảng năm 1955, tức là sau khi cuộc chiến Đông Dương kết thúc vào 1954, và Tết 1955 là cái Tết đầu tiên mà cả dân tộc được hòa bình. Tác giả đã nói lên tâm thức của dân tộc mình được sống trong hòa bình, được vui với cảnh thanh bình và hướng về tương lai.
Bản Ly Rượu Mừng được đăng trên một tờ báo Xuân ở Sài Gòn và lần đầu tiên được hát trong dịp Tết 1955. Từ năm đó bài hát này luôn luôn được mọi người hát hay đón nghe mỗi khi Tết đến Xuân về. Theo tôi, đó là một nhạc phẩm lớn, nó diễn đạt nỗi vui của mỗi tâm hồn Việt Nam trong dịp năm mới, diễn đạt cái tình thương yêu của mọi giới người trong xã hội, và cũng diễn đạt niềm hy vọng chứa chan của cả một dân tộc khi nghĩ tới bước đường tương lai.
Mặc Lâm: Vâng. Một lần nữa xin cảm ơn nhà văn Phạm Phú Minh đã cho chúng tôi buổi nói chuyện rất lý thú ngày hôm nay.
* Bài đã được DĐTK nhuận sắc một phần để thích hợp với lối văn viết từ những câu văn nói trong cuộc phỏng vấn.

Link to full article

Đêm xuân, nghe nhạc quỳnh Phạm Anh Dũng

Lê Hữu

Nhẹ bàn chân, hương đêm ơi!
Nhẹ bàn tay, hương yêu ơi!
(“Dạ lai hương”, Phạm Duy)


Quỳnh”, họa sĩ Nguyễn Chính
Đêm thơm như một dòng sữa…
Tôi yêu hai chữ “đêm thơm” trong câu hát ấy, câu hát của Phạm Duy.
Nói đúng hơn, tôi yêu kỷ niệm về câu hát ấy. Bài hát nghe được vào một đêm xuân nào trong một quán café ở Saigon, trước năm 1975. Tôi không nghe một mình, mà với người bạn gái. Trong vuông sân nhỏ ở ngoài vườn và trong bóng tối mờ mờ tỏa ra từ những ngọn đèn màu vàng đục, chúng tôi ngồi bên nhau thật im lặng, nghe đêm trôi đi chầm chậm, nghe nhạc trôi đi chầm chậm lẫn trong hương ngọc lan mơ hồ thoảng trong đêm.
Tôi không gặp hai chữ “đêm thơm” ấy trong bài hát nào khác, cho đến một buổi tối, bất chợt tôi nghe tiếng nhạc dạo êm dịu và giọng hát cũng thật êm dịu.
Em ơi, đêm thơm một đóa quỳnh…
Tôi ngồi lặng yên một lúc, nghe hết bài nhạc. Nghe kỹ, và nhận ra một điều. Đã lâu thật lâu tôi mới lại có được cảm giác ấy, cảm giác lâng lâng nghe nhạc trôi đi, trôi đi chầm chậm, như những cánh hoa mầu trắng nở chầm chậm trong đêm.
Hai câu hát có hai chữ “đêm thơm” ấy đều là câu nhạc đầu trong hai bài hát nói về những bông “hoa nở về đêm”. Bài hát của Phạm Duy tên là “Dạ lai hương”, bài hát của Phạm Anh Dũng tên là “Dạ quỳnh hương”.
Nếu đấy là một sự ngẫu nhiên thì quả là một ngẫu nhiên khá thú vị.

Khi xem hoa nở, khi chờ trăng lên”

Đêm thơm, hay là hương thơm dìu dịu của đóa quỳnh nào thoảng trong đêm.
Đã có nhiều bài hát nói về hoa quỳnh. Những bài hát quen thuộc và được nhiều người yêu thích vẫn là những bài của Phạm Duy, Trịnh Công Sơn và Phạm Anh Dũng.
Cành hoa trắng” của Phạm Duy có một vẻ gì buồn bã, “Người về trong đêm tối / ôm cành hoa tả tơi…”
Quỳnh hương” của Trịnh Công Sơn lại có nét gì tươi vui, “Quỳnh thơm hay môi em thơm…
Nghe “Dạ quỳnh hương”, người ta không chỉ nghe được, thấy được vẻ đẹp quyến rũ của hoa thôi mà còn cảm được cái “tình” thầm lặng và vấn vương giữa hoa và người nữa.
Nồng nàn quỳnh hương thơm giữa cánh môi xinh
lòng ta nghe xôn xao cây lá xanh tình
Nghe những lời ấy mà “nghe” lòng ngất ngây trong phút giao hòa giữa nhạc và thơ, giữa người và hoa, giữa mộng và thực.
Rồi tình ta như trăng sáng ngát trên cao
Bầy chim uyên lao xao theo gió đêm về…
Nghe những lời ấy mà “nghe” tim rạo rực trong đêm lắng sâu, đêm bát ngát trăng sao.
Ngàn vì sao đua nhau thắp nến lung linh…
Hai chữ “lung linh” trong câu hát ấy thật là đẹp. Trong “Dạ lai hương” của Phạm Duy cũng “ngẫu nhiên” có hai chữ “lung linh” thật là đẹp.
Lung linh, trăng lại về nữa…
Những chữ “lung linh” ấy như mang đến cho ánh sao đêm và bóng trăng khuya một vẻ mơ màng, huyền ảo. Có vẻ như “quỳnh” và “trăng” luôn sánh đôi với nhau. “Khi xem hoa nở, khi chờ trăng lên (1), người ta muốn được thưởng hoa và thưởng trăng cùng lúc.
Hoa trăng với lại hồn tôi
phút giây hư thực đất trời trôi qua
Đến khi thức dậy nhìn ra
ánh trăng vừa tắt, sắc hoa vừa tàn
(“Hoa nở theo trăng”, Tế Hanh)

Nguyệt quỳnh”, họa sĩ Thanh Luân

Dạ quỳnh hương” là thoáng hương thơm dìu dịu, là màu trắng tinh khiết của những cánh hoa nở lặng lẽ trong đêm.
Vẻ đẹp của hoa là vẻ thanh cao mà đài các, là vẻ e ấp mà nồng nàn, dịu dàng mà tình tứ, thầm lặng mà quyến rũ.
Khác với hai bài nhạc quỳnh kia, “Dạ quỳnh hương” được phổ từ bài thơ cùng tên của một người làm thơ… cùng tên với loài hoa sắc hương trinh bạch ấy. Hoàng Ngọc Quỳnh, hay Hoàng Ngọc Quỳnh Giao. Như cái tên định mệnh, nhạc phổ vừa xong thì hoa cũng vừa khép cánh. Tác giả bài thơ ấy, người nữ sĩ tài hoa bạc mệnh ấy đã từ biệt thế gian này để đi về một thế giới khác. Hoa đã lìa trần, hoa đã lìa xa người. Mối đồng cảm ấy, mối duyên văn nghệ ấy giữa người thơ và người phổ nhạc bài thơ chỉ như cơn gió thoảng, chỉ như giấc mơ qua, vì cho đến lúc “hoa lìa cành biếc, hồn theo gió vương (2) hai con người nghệ sĩ ấy vẫn chưa hề có một lần tương kiến.
“… Sau một đêm thức trắng tôi viết xong ‘Dạ quỳnh hương’ và gửi cho Quỳnh,” tác giả bài nhạc kể lại. “Quỳnh rất thích, cho biết vẫn đem ra đàn, hát, và có hứa sẽ gửi tôi nghe bài ấy với tiếng đàn dương cầm sau khi sức khỏe hồi phục (nàng có theo học bốn năm về dương cầm tại trường Quốc Gia Âm Nhạc Huế). Chỉ ít lâu sau, tháng Giêng năm 2001, bất ngờ tôi được tin Quỳnh qua đời tại Bỉ. Tôi chưa hề được nghe tiếng đàn của Quỳnh. Tôi cũng chưa gặp Quỳnh bao giờ cả.”
Từng cánh khép lại rồi
hoa lả mềm giấc ngủ
Ôi, phút hoa hiến dâng
hồn tôi không kịp hái
(“Hoa quỳnh”, Lâm thị Mỹ Dạ)
Đóa quỳnh hương khép cánh ấy, Hoàng Ngọc Quỳnh Giao, cô đã tạt ngang qua cuộc đời này, rồi lặng lẽ biến mất khỏi cuộc đời này. Cô đã yêu biết mấy cuộc đời này. Cô yêu thi ca, yêu âm nhạc, yêu hội họa, yêu trăng sao, yêu cỏ hoa “cây lá xanh tình”. Cô đã có những hạnh phúc ngắn ngủi giữa cuộc sống cũng thật ngắn ngủi.
Ôi cuộc sống thật ý nghĩa nhưng cũng thật vô nghĩa. Và chút duyên tri ngộ, và chút tình mong manh tựa những cánh hoa quỳnh mong manh ấy… “cũng theo hư không mà đi”. (3)
Dạ quỳnh hương”, một trong số ít những bài nhạc Việt hay nhất viết về hoa.

Chàng nhạc sĩ của hoa quỳnh

Trước năm 1975, chúng ta vẫn có những y sĩ viết văn, làm thơ và có cả những giọng hát thật truyền cảm nữa. Sau năm 1975, chúng ta lại có thêm những người viết nhạc trong giới y sĩ, trong số ấy có Phạm Anh Dũng, vẫn được nhiều người yêu nhạc biết đến như là chàng nhạc sĩ có sức sáng tác thật sung mãn và đa dạng như là “cây đàn muôn điệu”.
Những người y sĩ viết nhạc, làm thơ, hay “lấy thơ ghép nhạc”. Tại sao không? Như Phạm Anh Dũng. Như cô bạn đồng nghiệp của anh, Hoàng Ngọc Quỳnh Giao. Phía sau cánh áo blouse trắng như màu trắng thanh khiết của những cánh hoa quỳnh là trái tim nhân ái, là tâm hồn rộng mở, là lòng yêu cái đẹp. Cùng với “cây đàn muôn điệu” ấy, anh đã dạo lên khúc nhạc êm đềm, đã cất cao tiếng hát ca ngợi thương yêu và cuộc sống kỳ diệu. Cùng với lời ca tiếng nhạc ấy, anh đã vỗ về, đã xoa dịu những nỗi đau và chữa lành những vết thương trong tâm hồn người giữa cuộc sống nhiều hạnh phúc và cũng lắm khổ đau.
Yêu nhạc, yêu thơ và yêu hoa, Phạm Anh Dũng có đến ba mối tình rất thủy chung (nếu không kể mối tình với người bạn đời và cái nghề tay phải gắn liền với chiếc ống nghe mỗi ngày của anh).
- Yêu nhạc: gần bốn trăm ca khúc được sáng tác, hơn mười lăm CD nhạc được phát hành, nguồn nhạc hứng trong tim chàng nghệ sĩ ấy vẫn chưa có lúc nào vơi cạn. Nghe nhạc Phạm Anh Dũng, qua các giọng ca tên tuổi của hai thế hệ cũ, mới và qua mọi thể loại, mọi thể điệu, mọi đề tài, tưởng như anh muốn ôm hết cuộc sống vào lòng vậy.
- Yêu thơ: phần lớn những bài nhạc của Phạm Anh Dũng là những bài thơ của các nhà thơ quen tên được phổ thành ca khúc, cho thấy ở nơi anh tâm hồn yêu thi ca, yêu nghệ thuật. Những sáng tác của Phạm Anh Dũng, cho dù là lấy nhạc ghép thơ hay lấy thơ ghép nhạc vẫn luôn luôn là những bài nhạc rất thơ, luôn luôn là những lời nhạc đẹp tựa lời thơ.
- Yêu hoa: loài hoa chàng “yêu” nhất chắc phải là hoa quỳnh. Không chỉ “Dạ quỳnh hương”, Phạm Anh Dũng còn cho ra đời một series nhạc quỳnh khá độc đáo gồm trên mười bài quỳnh ca.
Đây là một ‘kỳ tích võ lâm’,” tôi nói với anh như vậy, “chưa từng có trong giới sáng tác âm nhạc.” Phải yêu hoa lắm lắm, phải nặng tình với quỳnh lắm lắm mới dày công thực hiện một chuỗi những bài tình ca về “nữ hoàng của bóng đêm” ấy.
Một CD “nhạc chủ đề” có tên là Quỳnh Ca, là một tập hợp những bài nhạc quỳnh của Phạm Anh Dũng và những bài “thơ quỳnh” của Hoàng Ngọc Quỳnh Giao, Vương Ngọc Long, Phạm Ngọc, Hoa Cỏ, Trường Đinh… được nhạc sĩ phổ thành ca khúc. Bên cạnh những bài “Quỳnh”, “Với quỳnh”, “Đêm nguyệt quỳnh”, “Dạ quỳnh hương”, “Đóa quỳnh như”, “Như đóa dạ quỳnh” là những bài có cái tựa bắt đầu bằng chữ “quỳnh”, như “Quỳnh giao”, “Quỳnh hoa”, “Quỳnh lan”, “Quỳnh lệ”, “Quỳnh mơ”, “Quỳnh như”, “Quỳnh thi”, nghe như cách đặt tên của một bộ “tranh sưu tập” về hoa quỳnh.
Thật khó mà nói được tôi chấm bức “tranh quỳnh” nào đẹp hơn cả. Mỗi bức một vẻ, bức nào cũng đẹp, cũng được vẽ bằng những nét cọ mềm mại là những lời thơ ý nhạc. Tôi thích nghe “Dạ quỳnh hương” với giọng hát ấm áp và êm dịu của Trần Thái Hòa. Tôi cũng thích nghe “Quỳnh”, nghe nhạc điệu êm êm, buồn buồn để cảm thương cho số kiếp phù du của loài hoa nở và tàn trong đêm.
Quỳnh hoa rũ tàn
mầu trăng úa mờ…
Còn chi nữa quỳnh!
Lệ ta đã cạn
rồi quỳnh tan theo khói sương mờ đêm đêm
(“Quỳnh”, Phạm Anh Dũng)
Mỗi người đều có thể tìm thấy một bài nào mình yêu thích trong số những bài “quỳnh ca” ấy. Một bài “tự tình khúc” rất thơ, chẳng hạn.
Em cứ trắng cho hồn luôn trinh bạch
cho tơ vàng nhỏ nhẹ nốt thanh âm
(“Quỳnh giao”, Phạm Anh Dũng & Vương Ngọc Long)
Hay một bài tango dìu dặt, lâng lâng, như khúc nhạc dưới trăng.
Vườn trăng rộ nở
trắng muốt đóa Quỳnh thi…
Đi đâu mà nở vội
Đời thoáng chiêm bao
Tình người như cõi mộng…
(“Quỳnh thi”, Phạm Anh Dũng & Vương Ngọc Long)
Tình người như cõi mộng”, Phạm Anh Dũng, chắc hẳn anh từng có những giấc mộng êm đềm, như từng có những phút thả trôi, đắm chìm trong thế giới kỳ diệu của âm thanh.

Đêm xuân, thắp một ngọn nến thơm, nhắp một ngụm trà nóng, nghe một bản nhạc quỳnh, thấy “xuân thắm tình nồng” hơn, và thấy yêu mùa xuân hơn.
Cám ơn Phạm Anh Dũng, cám ơn “chàng nhạc sĩ của hoa quỳnh”.

Lê Hữu

(1) Kiều, thơ Nguyễn Du
(2) Kiếp hoa, nhạc Dương Thiệu Tước
(3) Ảo ảnh, nhạc Y Vân
Dạ quỳnh hương” (Phạm Anh Dũng & Hoàng Ngọc Quỳnh Giao), tiếng hát Trần Thái Hòa:

Link to full article

NHỚ MÙI TẾT XƯA


Hà Nội - Tết nay đã khác lắm. No đủ nên người ta chuyển từ "ăn Tết" sang "chơi Tết". Đã xa rồi một thời Tết đến chỉ mong có bữa cố tươm tất, "Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ". Có phải vì nhu cầu vật chất, ăn uống đã dư thừa, người Hà Nội lại quay quắt nhớ mùi vị Tết xưa?

1. Nhớ mùi Tết xưa là nhớ mùi hăng hắc cay cay tỏa ra từ cái bếp toàn củi gộc luộc bánh chưng. Lửa trong bếp lúc nào cũng phải giữ đỏ rực. Dăm viên gạch xếp chụm lại thế kiềng ba chân, bên trên bắc cái nồi to mấy người khiêng. Từ lúc gói bánh cho đến lúc nổi lửa luộc bánh là khoảng thời gian vui nhất của lũ trẻ con khu tập thể nhà tôi thuở ấy.

Ngày ấy đói, mấy nhà chung nhau một nồi bánh. Các nhà góp thịt lợn, gạo nếp, đỗ, lá dong. Xóm nhà tôi có bố tôi và bác giáo viên gói bánh rất giỏi, được phân công gói. Lạ thế, bao nhiêu cái bánh trong cùng nồi, tôi ăn cái nào là biết bố gói. Hình như bánh cũng có mùi người?

Khoảng 27, 28 Tết là lục tục sửa soạn gói bánh. Ngày gói bánh chưng là một sự kiện trọng đại của cả xóm. Người lớn vui, Tết nhất có mấy cái bánh chưng đầy đặn để thắp hương tổ tiên và ăn Tết. Lũ trẻ vui, vừa được thức trông nồi bánh chưng, tha hồ chạy nhảy, chơi tú - lơ - khơ, vừa được gói riêng mấy cái bánh nhỏ xíu vì còn thừa gạo, đỗ, thịt.

Trời rét căm căm, buổi tối cơm nước xong trẻ con tụ tập quanh nồi bánh chưng. Địa điểm luộc bánh là sân nhà tập thể năm tầng. Vui lắm. Hai hàm răng lập cập vì rét và hồi hộp. Chả hiểu sao thời ấy, mùi Tết rõ thế. Từ trước lúc gói bánh chưng đã thấy cái phong vị bảng lảng của tiết trời vào Xuân. Khi bắc nồi luộc bánh cái mùi thơm kỳ diệu của khói bếp, củi cháy, lá dong cứ tan trong không gian, bám chặt vào người. Len vào đầu óc non nớt của trẻ con.


2. Hà Nội đô thị hóa chóng mặt. Vùng đào cổ ngày ấy giờ không còn nữa. Không biết đi đâu về đâu. Đất trồng đào lùi dần, nép mình nhường chỗ cho khu đô thị. Nhẫn nại và cam chịu lép vế trước sức tấn công hung bạo của kẻ mạnh. Mạnh vì gạo, bạo vì tiền mà. Thời buổi kim tiền, hình như những gì đẹp đẽ, vốn là truyền thống, đều phải lùi lại sau, nhường cái "mặt tiền" ra tiền kia cho kẻ mạnh. Những ông già đạp xe bán đào chọn chỗ khuất nẻo ngay phía sau khu đô thị hiện đại và lớn nhất Hà Nội, lặng lẽ chờ người mua. Phía trước, những chiếc xe hơi bóng lộn tấp nập lăn bánh vào khu đô thị, nơi những chủ nhân của chúng chễm chệ trong những villa, căn hộ sang trọng vốn là đất làng đào.

Đào Tết với người Hà Nội giống như mai vàng với người Sài Gòn. Trong nhà không có cây đào, chậu quất còn gì Tết nhất. Độ 28, 29 Tết bố và tôi lên làng đào chọn một gốc đào phai rừng. Cây to nguyên gốc, vậy mà bố nhất quyết tự chở về bằng xe máy. Bố bảo, mua thì phải tự chở về mới quý. Có năm cây đào rừng bố mua ra cả quả, lộc non xanh biếc. Chở đào rừng về nhà là thấy xuân về. Trong nhà có cây đào thấy Tết vô cùng thiêng liêng ấm cúng.

Vậy mà ba năm nay tôi không dám lên cái làng (từng trồng) đào ấy nữa. Có gì như ám ảnh, dằn vặt từ bên trong. Người thủ đô nào không xót xa nhìn cả một làng đào phải đi tị nạn, trao đất cho người nước ngoài xây những căn nhà gắn mác cao cấp trị giá bạc tỉ, thậm chí chục tỉ, rồi bán lại cho chính người Việt. Tất nhiên, người giàu. Chắc chả ai lẩn thẩn như tôi, sống trong những căn villa đồ sộ như thế người ta đâu cần hoài cổ đào? Không biết phải chặt đi bao nhiêu gốc đào để xây được một căn biệt thự hàng trăm mét vuông? Những mảnh đời nông dân sống với đào ở đâu giờ này?

Đây là một cuộc giành giật không cân sức. Nhưng nếu lạc quan, hãy tin vào tính kế thừa của văn hóa. Những làng đào nổi tiếng đất Thăng Long - Nhật Tân, Phú Thượng dù bị chèn ép đến độ phải bật bãi khỏi mảnh đất cha ông vẫn trụ được và nở hoa ở những vùng đất mới. Liệu sức sống mãnh liệt này có phải là lý do người miền Bắc chọn đào là cây ngày Tết?

3. Tết nay đã khác xưa nhiều. Đã vắng mùi bếp củi luộc bánh chưng. Ngày trước chỉ Tết mới được ăn bánh chưng, thịt gà. Bây giờ bánh chưng bán quanh năm ngoài chợ. Gà không còn là tiêu chuẩn đo sự sung túc trong mâm cơm gia đình. Bánh chưng ra chợ mùa hè còn có, ngày Tết ai hì hụi rửa lá dong, gói và luộc bánh cho cực? Nhưng vì thế, thiếu vắng hẳn một mùi vị rất riêng của Tết.

Tôi muốn thêm một khúc nhỏ thay lời kết bài viết về mùi Tết xưa. Có lẽ, ngày trước thiếu thốn đủ bề, các loại mùi vị không được phong phú như bây giờ nên trẻ con rất nhớ. Thời khắc trước Giao thừa đêm 30 Tết với tôi luôn là lúc đẹp nhất, trọn vẹn ý nghĩa giao thoa Đất - Trời - Con người. Khi mẹ lên sân thượng cúng, bố lại gọi anh em tôi dậy, mặc ấm và chuẩn bị hoa quả, mứt, bánh kẹo. Giao thừa năm nào tôi cũng thấy nao nao trong người. Rất lạ. Đấy là lúc trời đất giao hòa, con người trong tổ ấm. Trở về nơi bình an nhất sau một năm lo toan. Thoảng trong tiết Xuân lắc rắc mưa bụi, là mùi hương, mùi của Tết. Cái mùi mà với tôi, đến tận bây giờ và mãi sau này, không thể mất đi.

THÀNH TRUNG

Nguồn:
Nhớ, mùi Tết xưa




Link to full article

Bốn Mùa Gió Thoảng

Thơ-Trần Mộng Tú  

 
       
Anh ạ một năm vừa rơi xuống
bốn mùa gió thoảng chấp cánh bay
em ngước nhìn trời Trời rộng lượng
tặng cho em một vốc tháng ngày
tháng ngày mới quá em hối hả
bắt đầu đếm tháng giêng tháng hai
vẽ xong nét mày tháng sáu đến
hoa nắng chưa tan đã thu về.
cứ thế Trời cho Trời lấy lại
đông tuyết, xuân hoa đẹp não nề
hồn em cong xuống mềm theo tuổi
cánh cửa thời gian mầu sơn phai
phiến đá bên thềm mòn một góc
dấu giầy ai qua để lại đây

Anh ạ tháng một sao đã Tết
Trời có trừ đi mất ít ngày
em thấy thời gian như co lại
hay chính mình co với đất trời
đôi giầy vải cũ mòn bao dặm
bạn vẫn gọi lên núi xuống thuyền
như sợ ngày mai mặt trời mọc
ai nằm như chăn gấp, gối yên


Anh ạ năm nay Tết sớm thật
ngoài kia vai núi tuyết còn đầy
khói tự mặt hồ như huyễn mộng
dấu thời gian cũ vương đâu đây

Em chạm bàn tay vào giấy mới
chao ơi! Thơ thơm từng ngón gầy .

tmt

Xuân Nhâm Thìn


Link to full article

Phụng Cầu Hoàng

Phương Nghi


Thầy tôi hai mươi năm trước rất nghèo, ở tận cùng một con hẻm lầy lội bên cầu chữ Y.  Nhà chín người, chỉ có một cái giường duy nhất dành cho bà cụ, tám người còn lại trải chiếu nằm dưới đất.  Thầy dạy tôi chơi đờn thập lục.  Tôi thương thầy từ cái buổi đầu tiên tôi bước vào căn nhà nửa tôn nửa lá đó.  Thầy tôi ra mở cửa.  Những người đang nằm ngủ ở gian trước thấy có học trò đến thì vội vàng cuốn mền chiếu  lủi vào nhà trong.  Tôi ngồi học.  Không gian như mớ bùi nhùi với tiếng con nít khóc, tiếng rao hàng, tiếng chẻ củi rầm rầm, tiếng chưởi lộn, tiếng gà, tiếng vịt lẫn lộn với tiếng song lang và tiếng réo rắt của những bản Phú Lục, Kim Tiền, Hành Vân, Lưu Thủy…

Thầy tôi hiền.  Có lẽ vì vậy mà tôi thương?  Hay vì lẽ gì tôi chẳng biết nữa.   Tôi thường đến học vào buổi chiều, dạy xong, thầy chuẩn bị ăn cơm để tối vào đờn cho một đoàn cải lương lưu động.  Tôi vào dàn đờn chơi với thầy.   Những nhạc sĩ ngồi trong bóng tối sát sân khấu, mỗi người có một bóng đèn trái ớt tù mù kẹp vào giá nhạc để soi bản đờn.  Thầy đang lui cui lên dây, thấy tôi vào thì ngẩng lên mỉm cười: “Ờ, em” rồi thôi, không nói gì nhiều.  Tôi ngồi thụp xuống bên thầy, vừa say mê, vừa khâm phục.  Tôi nói: “Thầy ơi, em muốn mai mốt cũng đi đờn gánh hát như thầy.”  Thầy tôi nói: “Em ráng lo học, có cơ hội thì ra nước ngoài.  Gánh hát sống rày đây mai đó, cuộc đời lang bạt, rượu chè trai gái bừa bãi,  chính thầy cũng không thích. Thầy thích dạy học trò và viết sách. ”   Giờ giải lao thầy tôi vẩn vơ đâu đó có một mình, những diễn viên thì chưa thay áo diễn đã ngồi sòng.  Một anh kép phấn sáp rất đậm, ngoạm trái xoài nhểu nhão, hết nhìn tôi lại nhìn thầy, cái ý dơ dáy lộ hết trong ánh mắt tung tẩy.  Vãn hát tôi đến chào thầy rồi ra về.  Thầy tôi xếp đờn cho vào hộp, vẫn chỉ nói có ít lời: “Ờ em, thôi về đi.”

Tôi muốn đờn giỏi như thầy nên rất cố công tập luyện.  Thầy dạy tôi bản Phụng Cầu Hoàng.   Thầy biểu: “Những chữ xự ở câu một và vài câu khác là để diễn tả lời nói có ý trách hờn của nàng Trác Văn Quân với chàng Tư Mã.  Ngày nay sân khấu cải lương đổi xự thành xang, chữ này để diễn tả một tình cảm âu yếm khác, lệch đi sự nguyên thủy của bài.”   Chữ “xự” nghe nát ruột nát gan, nghe rất ai oán trong khi chữ “xang” thì lại bình lặng, chứa chan như bầu trời đằm thắm, như mặt nước bao dung.  Về sau tôi cứ tự trách mình là đã không hỏi thầy tại sao nàng Trác Văn Quân lại giận chàng Tư Mã, giận như vậy là trước hay sau khi nàng đã trốn đi cùng chàng, chàng đã làm điều gì thất thố?  Học trò ngày xưa ít dám hỏi, biểu sao nghe vậy.  Trác Văn Quân giận?  Vì lẽ gì?  Tôi cố bắt chước đờn chữ “xự” cho thật sâu, thật não nuột như thầy nhưng không làm được, sửa tới sửa lui cũng chỉ nghe ra lạt nhạt, tầm thường.  Tôi lúc ấy còn chưa biết yêu ai thì làm sao biết giận ai, làm sao nắn nót cho được cái nghiến răng, cái cau mày của một Văn Quân đa tình, đắm đuối.

Tôi ít khi nào gặp cô, tức là người vợ của thầy.  Một đôi lần tôi thấy bóng cô thấp thoáng trong gian bếp tù mù khói và tôi có cúi đầu chào.  Cô bán chuối sấy, người hơi thấp, ô dề, tóc ngắn và thưa, trong khi thầy thì rất thanh tao, rất tài hoa, rất nghệ sĩ.  Nhiều khi tôi cảm thấy tiếc, tiếc ngẩn tiếc ngơ vì cái sự không tương xứng ấy.  Thầy với cô lại không có một mụn con nào.  Thầy có hạnh phúc không?  Tôi không biết.   Tôi có cảm tưởng thầy là một Tương Như cô độc, lỡ thời, lạc vận, đêm đêm khắc khoải bên tiếng muỗi vo ve của căn nhà tum húm, lạc lõng trong cái xô bồ tạp nhạp của những pha chọc cười hạ cấp, những màn đánh kiếm, đeo mặt nạ, đu dây… Thầy bảo muốn đổi qua âm nhạc Tây phương chớ đeo đẳng mãi nhạc cổ truyền rồi trôi nổi theo gánh hát, muôn đời như cánh bèo vô định.  Thầy mượn cây organ điện của ai về tập, được một dạo phải trả cho người ta, mua thì mua không nổi.  Cái giấc Nam Kha thêm một lần eo sèo, áo não…  

Bản Phụng Cầu Hoàng còn dang dở thì tôi phải từ giã thầy ra đi.  Tôi mếu máo: “Thầy ơi, em không muốn đi.  Em muốn ở lại học cho giỏi như thầy rồi mai mốt em đi đờn với thầy.  Thầy đi tới đâu em cũng đi theo.”  Thầy ôn tồn: “Đừng nghĩ vậy.  Em đi đi.  Qua bên đó gầy dựng tương lai, có điều kiện thì học đờn trở lại.  Ở đây rồi làm gì?  Chui vào gánh hát, ăn miễu ngủ đình suốt đời sao?”  Thầy xé tờ nhật trình gói một mớ con nhạn và bốn sợi dây đờn đưa cho tôi tha thiết bảo: “Em giữ lấy.  Qua bên đó lỡ mất nhạn, đứt dây thì có mà thay vào.”  Tôi ngồi xuống bên thầy nước mắt chực tuôn: “Thầy ghi địa chỉ cho em.  Tới nơi em viết thư về liền cho thầy.”  Thầy cầm bút viết xong dặn dò chậm rãi: “Em có gửi thư về thì nhớ để tên cô ngoài bì thư, đừng để tên thầy.”  Tôi cúi đầu dắt xe đạp ra khỏi ngõ, nghe tiếng thầy cài lại then cửa ở bên trong.  Bầu trời như rách ra giữa những sợi dây điện, dây phơi quần áo, những xóm nhà bẩn chật, những mái tôn, mái lá lau nhau gần cụng đầu.  Chim én ở đâu bay về đen kịt…

Tôi cầm gói giấy có những con nhạn và bốn sợi dây đờn của thầy đạp xe lên dốc cầu chữ Y trong buổi chiều chênh chao, đắng chát nhất đời tôi và mím môi quẳng tất cả xuống dòng nước.  Tại sao nếu viết thư về thì phải để tên cô ngoài bì thư mà không được để tên thầy?  Thầy không biết là tôi thương thầy như thế nào sao, mỗi một chữ tôi viết cho thầy có buộc tấm lòng nặng trĩu của tôi mà sao tôi phải để tên cô?  Tôi dính dáng gì với cô hoặc cô dính dáng gì với tôi?  Giữa dòng xe cộ bươn bả, bon chen, người người dẫm lên nhau mà đi, mà chạy, có ai để ý tới đứa con gái mắt đỏ hoe đứng tựa thành cầu nhìn dòng nước đục ngầu nhấp nhô rác rến cuốn những tâm tình của nó mất tăm, chìm lỉm.  Tôi giận thầy.  Lần đầu tiên tôi giận thầy, mờ mịt nộ khí như bầu trời sắp có cơn giông lớn.  Tôi đấm tay lên thành cầu nói với dòng nước: “Đã đi là đi biệt, không hẹn buổi trùng phùng.  Thầy đừng chờ đừng đợi.  Ngã ba sông rộng từ đây.  Mãi mãi không bao giờ gặp lại…”

Tôi  không gởi một bức thư nào về cho thầy.  Một dòng cũng không.  Một chữ cũng không.  Cây đờn cũ nằm buồn thiu trong cái hộp phủ bụi trên gác nhà kho.  Tôi bỏ bê nó mà rồi tôi cũng nhớ nó điếng lòng điếng dạ.  Nó tội tình gì đâu.  Thời tiết nóng lạnh thất thường làm thân đờn bị nứt một đường dài, đen xỉn, những vảy ốc xà cừ bong ra mà vẫn còn lấp lánh như kỷ niệm xưa chưa nỡ nhạt nhòa.  Tôi không thể không nhớ thầy.  Một đêm buồn rã rượi tôi lôi cây đờn ra, vặn trục, lên dây, gảy bản Phụng Cầu Hoàng, trong lòng bi ai, thổn thức.  Trăng lu, gió lạnh… tôi chỉ có một mình… Ngọn đèn thắp dưới mái hiên lù mù, ám khói.  Ngoài cửa sổ thoắt ẩn hiện một mỹ nhân ăn vận cổ trang, xiêm y phất phới, đi hài, cài thoa, một vạt tóc vắt ngang gương mặt đẹp não nùng nhìn tôi thương cảm.  Tôi nhận ra người ấy là ai rồi.  Tôi ngừng đờn ngước lên buồn bã: “Văn Quân…Chữ xự tôi đờn thế này đã đúng với cái tình cái cảnh của nàng ngày xưa chưa?” 

Hai mươi năm sau tôi tình cờ gặp lại thầy trong một đoàn nghệ thuật cổ truyền sang đây biểu diễn.  Trên sân khấu thầy lại gảy bản Phụng Cầu Hoàng của ngày xưa với  những chữ “xự” đã kết tụ trong trái tim tôi như những mảnh vàng ròng với tất cả niềm nhớ thương da diết.  Những sôi sục ngày nào đã nguội lạnh.  Đời tôi đã trải qua lắm nỗi đoạn trường.  Tôi chạy đến ôm cánh tay thầy, trong lòng trào lên nỗi xót xa.  Thầy tôi đã già.   Già hơn xưa nhiều lắm.  Tôi kể với thầy rằng tôi đã có chồng có con, rằng cái duyên của tôi với âm nhạc đã đứt đoạn từ buổi ra đi.  Thầy tôi ngậm ngùi: “Sao em không viết thư về?  Em đi rồi ngày nào thầy cũng ngóng ra cửa chờ người đưa thư.”

Tôi nhìn xuống không trả lời.  Thầy không bao giờ hiểu cũng như tôi sẽ không bao giờ nói cho thầy nghe cái nguyên nhân vì sao tôi chẳng viết thư về.  Không bao giờ tôi nói ra.   Chuyện ấy đã trôi theo dòng nước dưới chân cầu chữ Y, vĩnh viễn không bao giờ tôi nhắc lại.  Tôi lảng qua chuyện khác, hỏi thăm thầy về đời sống hiện tại, hỏi thăm cô.  Thầy nói cô cũng được mời đi theo đoàn với thầy nhưng qua được mấy hôm thì ngã bệnh.  Tôi ngỏ ý muốn đến chào cô.  Thầy đưa tôi về căn nhà của một người trong đoàn mà thầy cô trú ngụ.  Cô nằm trên giường, đi lại rất khó khăn, cạnh bên còn chai dầu và cái cây cạo gió.

Cô cũng đã quá già.   Mái tóc ngày xưa vốn đã thưa nay càng thưa hơn, lại bạc trắng.  Cô chống tay ngồi gượng dậy, giọng nói mừng rỡ, ánh mắt hiền từ: “Lâu quá thầy cô không có tin tức gì của em.  Em qua đây làm ăn sinh sống ra sao?  Em có còn làm bánh?  Cô nhớ hồi xưa em làm bánh rất khéo.  Có lần em đem đến cho thầy một ổ bánh bông lan vừa ngon vừa đẹp.  Cô nhớ mà.”

Tôi thảng thốt bàng hoàng.  Bánh?  Bánh nào?  Có phải cái bánh đã lạc mất từ đời thuở nào trong trí nhớ lùng bùng của tôi, có phải cái lần do tình cờ nghe thầy thích bánh bông lan mà tôi đã làm đem tới.  Cô còn nhớ?  Nhớ làm gì?  Cái tình của tôi hai mươi năm trước đã lắng sâu xuống tận đáy rồi, nay bàn tay nào lại khoắn lên lần nữa.  Cô nhìn tôi mỉm cười, không nói thêm được vì mệt.  Thầy đỡ cô nằm xuống rồi tiễn tôi ra cửa.  Tôi hiểu rằng mình không có quyền.  Tôi không thể… Chữ “thương” kia cũng có năm bảy đường.  Tôi nhìn vào đôi mắt của người mà tôi từng nhớ nhung hết sức mà cũng trách hờn hết sức, nói: “Thầy.  Những chữ xự trong bản Phụng Cầu Hoàng có thể đổi thành chữ xang.  Từ nay em sẽ đờn chữ xang, không đờn chữ xự nữa.”  Thầy nắm tay tôi.  Tôi nghe rõ xúc cảm trong lòng thầy và trong lòng tôi chan hoà như nước lớn dâng đầy mặt sông.  Giọng thầy ấm áp bên tai tôi: “Thầy thương em lắm.”   Tôi sẽ nhớ suốt đời bốn chữ ấy.  Tôi lảo đảo bước ra cửa.  Giờ thì tôi đã rõ.  Tôi biết là cô hiểu tôi.  Và chính thầy cũng hiểu tôi, hơn ai hết, từ hai mươi năm trước… 

Tới lúc rồi đoàn hát cũng ra đi và tôi trở thành người đưa tiễn.  Chưa bao giờ tôi nhớ tới ngày xưa hơn lúc này.  Tôi giữ tay thầy trong tay tôi lần chót: “Thầy nhớ viết thư cho em.”   Tôi tưởng như trước mặt mình là cây cầu chữ Y, là những đốm nắng rơi xuống mặt nước cánh bèo, là ngã ba sông sụt sùi xa ngái.  Tự nhiên tôi nhớ đến một câu trong vở hát mà tôi từng lẽo đẽo đi theo nghe thầy đờn, từng thụp xuống trong bóng tối sát bục sân khấu nghểnh cổ lên mê mẩn: “Thôi.  Thế này thì cũng toại lòng nhau.”   Một người lên ngựa, một kẻ trông theo.  Dàn đờn rớt chữ xang mùi rệu, mấy chị bán xôi, mấy cô gánh nước sụt sà sụt sịt.   Có phải vậy không thầy?  Thế này thì cũng toại lòng nhau.  Trong vầng mây bồng bênh, bãng lãng ở chân trời tôi chợt như vừa nhìn thấy đôi mắt cong vút vời vợi của Văn Quân nhìn tôi trìu mến.  Ngày xưa chắc nàng cũng đã đổi chữ “xự” thành chữ “xang”  trong bản nhạc lòng muôn thuở ấy…
   

12/2011

         

Link to full article

Chuyện Rồng năm Nhâm Thìn

Đặng Tiến


Rồng là một linh vật tưởng tượng, chỉ có trong huyền thoại hay truyền thuyết, nhưng lại là một hình ảnh quen thuộc trong tâm thức Việt Nam.

Từ thuở xa xưa, truyền thuyết vẫn cho rằng dân tộc Việt Nam là con Rồng cháu Tiên. Dù ngày nay nhiều người không tin vào nguồn gốc ấy, thậm chí còn phản bác một truyền thuyết về chủng tộc mang tính cách tự tôn, kỳ thị, thì hình ảnh rồng trên vẫn ăn sâu vào trí tưởng và lời ăn tiếng nói. Rồng vẫn thường xuyên xuất hiện trên sách vở, trong trang trí, mềm mại trên vải thêu, uyển chuyển trên tranh tượng, uy nghi trong kiến trúc. Thậm chí, ngày nay hình tượng rồng còn xuất hiện tràn lan hơn trước, từ biểu tượng kinh tế phát triển nhảy vọt, đến tín ngưỡng vào “long mạch” trong thuật phong thủy, cho tới các trò chơi điện tử của thanh thiếu niên...

Vậy nhân ngày Tết Nhâm Thìn, chúng ta tìm hiểu xem : rồng là con gì, xuất phát từ đâu, ý nghĩa ra sao, biến chuyển thế nào qua các địa phương và thời đại.

Trước hết cần nói ngay điều cơ bản : rồng hiện diện trong truyền thuyết nhiều dân tộc trên thế giới, thường được Tây phương gọi là Dragon., âm vang gần với tên Rồng trong tiếng Việt, nhưng hai từ này không họ hàng gì với nhau. Nhà bác học Nga, V. Propp, trong tác phẩm kinh điển Cội Rễ của Truyện Cổ Truyền Kỳ, sau hằng trăm trang thâm cứu truyền thuyết rồng trong các nền văn hoá thế giới, đã đi đến kết luận :  « con rồng thuỷ tộc là một huyền thoại quốc tế » [1], dĩ nhiên là dưới những hình dạng khác nhau, trong những chức năng, biểu tượng khác nhau : rồng Tây phương nhiều đầu, bắt cóc, ăn thịt phụ nữ, rồng Á đông một đầu, cứu nhân độ thế. Nhưng rồng nọ rồng kia đều sản sinh từ một tư duy huyền thoại.

Rồng - Cá Sấu

Đầu tiên, chúng ta thử tìm hiểu nguồn cội gần nhất của con rồng Việt Nam. Theo sử gia Lê Thành Khôi, con rồng Việt Nam và Trung Quốc thoát thai từ cá sấu, hiện nay còn là vật tổ của nhiều dân tộc Đại Dương Châu [2]. Nhiều tác giả Việt Nam hiện nay cũng đồng ý với một lối giải thích có từ lâu, như trên một bài báo 1901, ký E. Chavannes, một học giả uy tín:

 « Rồng có chân và vảy, nó nhắc đến loài cá sấu thời xưa trên sông nước Trung Hoa, hiện còn sống rải rác trên sông Dương Tử. Cá sấu nòi thuỷ tộc, tự nhiên được liên hệ với nước; mùa đông nó ẩn mình, nhưng mùa  xuân và đầu hạ, vào những trận mưa lớn, nó xuất hiện để tha hồ trững giỡn. Người Tầu nhầm hiệu quả với nguyên nhân và cho rằng mây mưa theo về với rồng. Từ đó con cá sấu đã trở thành linh vật,  thu góp mây mưa,  rồi óc sáng tạo của nghệ nhân đã tạo ra con vật truyền kỳ. Và chức năng của rồng giữa mưa giông được ghi lại  bằng hình cầu (minh châu) tượng trưng cho sấm chớp giữa những tầng mây lớp lớp.  Và khái niệm phồn thực nhờ ơn mưa móc đã biến con rồng thành biểu tượng tốt đẹp » [3]. Một lối giải thích cụ thể, duy lý và duy vật như vậy, nghe qua thấy có tình có lý, được nhiều người chấp nhận, nhưng chưa chắc đã đúng. Vì một huyền thoại có tầm phổ biến sâu và rộng trên thế giới như Rồng, không dễ gì nảy sinh từ cảnh mây mưa của cá sấu. Lối giải thích ấy, nếu đúng, thì  chỉ đến sau, nằm chồng lên nhiều lý do thâm trầm khác.

Cũng một phương pháp cụ thể, nhưng ngược lại, có người đi từ sách Lĩnh Nam Chích Quái (1492) dựa vào truyền thuyết thời Hùng Vương :  « Lúc ấy dân sống ở ven rừng xuống nước đánh cá, thường bị giống giao long làm hại (...) lấy mực xăm mình theo dạng thuỷ quái. Từ đó dân không bị tai hoạ giao long nữa ». Theo văn cảnh và hoàn cảnh lúc đó, giao long là cá sấu, hoa văn theo  dạng « thuỷ quái » là rồng. Nhiều học giả như Đinh Gia Khánh [4] Nguyễn Lang [5] cho rằng từ phong tục vẽ giao long, người Việt đã tự xem mình là dòng dõi của rồng. Những ức thuyết như vậy, dù đúng dù sai, vẫn có tác dụng cụ thể là tạo tương quan  giữa cá sấu, giao long, thuồng luồng và con rồng từ truyền thuyết đến trang trí.

Tương quan Rồng-Sấu còn có thể minh hoạ bằng hình tượng cá sấu trên nhiều di chỉ thời Đông Sơn : đôi cá sấu đối diện trên một thạp đồng Đào Thịnh (Yên Bái, thiên niên kỷ trước TL) hay qua đồng Núi Voi (Ba Vì), lưỡi rìu Đông Sơn, vv ...
Nguyễn Phúc Long đã có bài rất kỹ về chủ đề này trên báo Đoàn Kết, Paris, số Xuân, cách đây hai giáp (1988) [6].
Giáp sau, trên báo Hợp Lưu,  California, số Xuân 2000, Huỳnh Hữu Uỷ cũng có bài nghiên cứu tường tận và cập nhật nhấn mạnh vào tương quan Rồng-Sấu trong tiếng Mường và văn học dân gian Mường [7].

*

*           *

Rồng : hình tượng tổng hợp

Nhưng vấn đề đặt ra là : con rồng ta thấy hiện nay - rõ nét từ thời Lý, thế kỷ XI - có thật sự thoát thai từ con sấu-giao long chạm khắc thời Trống Đồng Đông Sơn ? Lịch sử mỹ thuật có liên tục và đơn tuyến ? Hay là bị đứt đoạn trong một ngàn năm Bắc thuộc ? Con Rồng-Sấu giao long nếu quả thật đã xuất hiện thời Đông Sơn, chắc cũng thay hình đổi dạng nhiều dưới ảnh hưởng ngoại lai, từ phía nam hay phía bắc.

Từ đó, lại nảy sinh một câu hỏi khác : Nếu hình dạng rồng hiện nay không thoát thân từ hình sấu-giao long thời Đông Sơn, thì huyền thoại Rồng Lạc Long có phản ánh thực tại sấu-giao long của vùng châu thổ sông Hồng thời Hùng Vương ? Nói khác đi, con rồng trong huyền thoại và con rồng trong tranh tượng, tuy hai mà một, hay ngược lại, tuy một mà hai?

Ngoài ra,  rồng  còn là một huyền thoại có tầm biểu tượng sâu và rộng trên thế giới và ở mỗi địa phương mang một chức năng riêng. Vậy có nên giới hạn nó trong chuyện cá sấu ở sông Hồng hay Dương Tử?

Trong công trình nghiên cứu của V. Propp đã nói trên, tác giả đã đi đến định nghĩa khái quát :
 “Rồng là con vật huyền thoại tổng hợp nhiều động vật khác, chủ yếu là chim và rắn” thêm vào cá sấu, cừu dê, ngựa, lạc đà, hùm beo, sư tử... Con vật có hình dung chính xác, thì không gọi là rồng, ví dụ con mãng xà vĩ đại, trang trí quái đản ở Châu Úc, là Thanh Xà, Bạch Xà gì đó chứ không phải là rồng (tr. 324).

Vậy nguồn gốc rồng ở đâu ra ?  Trước hết, nó không phải là kỷ niệm của loài khủng long thời tiền sử xa xưa, vì khi loài người xuất hiện thì loại động vật này đã bị diệt chủng từ lâu. Hài cốt khủng long cũng khó gợi ý gì cho nhân loại (tr.293). Theo Propp con rồng sản sinh từ tư duy hoang mang của con người cổ sơ trước cái chết, mà họ không hiểu. Con người, hay động vật, đang sống, sao lại chết ? Phải chăng là hồn lìa khỏi xác ? Vậy hồn đi đâu ? Xác sao lại biến dạng, tan rã? Cõi chết ở phía nào ? Phía trời cao của chim, xứ biển xa của cá sấu, hay dưới đất sâu của hang rắn ? Phải chăng hồn sẽ nhập vào một thân xác khác, tổng hợp chim-rắn-sấu, gọi là rồng ? Vì vậy mà rồng, có cánh hay không có cánh, vẫn bay được như chim, luồn vào hang hốc như rắn và ngự trị thuỷ cung như ... Lạc Long Quân ? (tr. 326).



Rồng - Chim - Rắn Việt Nam

Các nhà nghiên cứu về dân tộc học và cổ sử Việt Nam, cũng có những suy đoán tương tự, được phát biểu rải rác trong những công trình in lại trong bộ Hùng Vương dựng nước (bốn cuốn) [8] như Lê văn Lan và Trần Minh Hiên :
 « Trong ngôn ngữ và khái niệm người Khmu, có một con vật gọi là prư dồng ». Đó là một con vật hình rắn, có mào như mào gà, có vây và có chân. Trong ngôn ngữ và ý niệm Thái « prư dồng » tương đương với « tu luông » là một con vật mình rắn có vảy và có bờm như ngựa . Những con vật quái đản này không có quan hệ gì về dòng họ với những người đang sống, nhưng lại có vai trò như một thứ thần chịu trách nhiệm về nắng mưa như một thứ ma nước và những con vật quái đản này cũng thường được hiểu như khái niệm thuồng luồng của người Việt ... Từ Quỳnh Nhai, đến Mường La, trên sông Đà, có khoảng 20 cái thác thì có 20 nơi thờ thuồng luồng chư thế, thường cúng bằng gà lợn »  ... (H.V.D.N. III, tr. 241-242).

 « Hình tượng chim và rồng thể hiện sự phát triển tư duy con người trong quá trình xây dựng nên hình tượng « khổng lồ » (... ) chim và rồng dần dần đã không còn là những động vật khoác áo thần linh nữa, mà đã được biến thành những nhân vật truyền thuyết, nhân vật lịch sử.  Đó là cặp Âu Cơ (tiên-chim-núi-đất) và Lạc Long Quân (rồng-nước-sông-biển) : Rồi thu hút vào đó những hình tượng Sơn Tinh, Gióng, đặc biệt là Hùng Vương » (H.V.D.N. III, tr. 244). Phần đông các nhà nghiên cứu Việt Nam đều suy nghĩ theo chiều hướng đó, như Cao Huy Đỉnh, Đặng Nghiêm Vạn, Trần Quốc Vượng.[9]

Rồng : Điềm lành

Tại các xã hội trồng lúa nước, rồng là điềm lành, là biểu tượng cho mưa móc, phồn thịnh, tốt lúa xanh dâu. Từ đó vua chúa chiếm đoạt hình tượng rồng để tiêu biểu cho mình, cho chức năng trị dân trị nước, ban ơn  « vũ lộ » cho dân chúng. Vua chúa, bắt đầu là Thần Nông trong truyền thuyết Trung quốc, có tên là Viêm Đế, bao gồm quyền uy chế ngự mặt trời, sinh ra Kinh Dương Vương cũng là biểu hiệu mặt trời, Kinh Dương  lấy Rồng, con gái Long Vương sinh ra Lạc Long Quân, làm vua đất Lĩnh Nam, «dạy dân việc cày cấy nông tang, đặt ra các đẳng cấp quân thần, các đạo cha con vợ chồng, đôi khi trở về thuỷ phủ mà trăm họ vẫn yên vui ». (Lĩnh Nam Chích Quái).
(Ngoài đề: ông ấy dạy dân giỏi như thế, nhưng bản thân không mấy tôn trọng đạo cha con, vợ chồng, khiến bà Âu Cơ đã phải than trời, và phê phán là người “vô phu vô phụ, chỉ biết thương mình”, vẫn theo LNCQ)

Như vậy, con Rồng từ tư duy về cõi chết đã chuyển mình thành huyền thoại kết hợp hai hiện tượng Nắng-Mưa, cần thiết cho nông nghiệp, rồi đi vào truyền thuyết và dần dần mang chức năng xã hội, lịch sử. Có lẽ vào thời kỳ dân tộc ta định canh định cư vùng sông Hồng, thời Đông Sơn-Hùng Vương. Theo Propp, rồng là huyền thoại xuất hiện muộn màng trong lịch sử nhân loại.

Như vậy,  con rồng biểu tượng cho nền đế chế quân chủ, phong kiến có lẽ chỉ định hình rõ nét về sau, từ thời Hán Cao Tổ  tự xưng là thiên tử, chọn Rồng làm biểu tượng đế chế; nó du nhập vào nước ta vào cuối thời Hùng Vương, nhất là trong thời kỳ Bắc thuộc. Cho dù hình tượng con rồng đế vương xuất hiện rất sớm ở Trung Quốc, từ nhà Hạ, hơn hai ngàn năm trước Tây Lịch : rồng đã sinh ra thuỷ tổ nhà Hạ, các vua Hạ ăn thịt rồng, nuôi rồng...   Nhà bác học Marcel Granet nói rõ điều này và giải thích bằng những cuộc hội hè, có múa rồng,  « đấu rồng » (joutes entre dragons) để cầu mưa. « Hình thể pha tạp của rồng là sản phẩm của trí tưởng tượng, bắt đầu từ nghệ thuật điêu khắc phù hiệu, mà tục múa hát dân gian là khởi điểm... Trước khi là biểu tượng của đế vương, rồng là hình tượng múa nhảy dân gian » [10]. Tại nước ta, trên trống đồng, những hoa văn hình dung người nhảy múa, xử dụng nhạc khí, giã gạo quanh mặt trời... bên cạnh thuyền rồng, có thể cùng một nguồn gốc sáng tạo.
Và ngày nay, trò chơi rồng rắn, hay múa rồng có thể là tàn dư.

Nói chuyện rồng ba đồng bảy đỗi cho tròn câu chuyện ngày Tết, là mong nới rộng hiểu biết ra khỏi cương vực con Rồng cháu Tiên, đưa một truyền thuyết bộ tộc hội nhập vào quỹ đạo huyền thoại loài người.
Nhưng điều chính yếu và tâm niệm, vẫn là ý nghĩa Rồng trong tâm thức dân Việt chúng ta, lúc nào cũng thương  nguồn nhớ gốc, thiết tha với lịch sử trên dải đất hình rồng.
Đồng thời hướng về tương lai hưng thịnh, mà Rồng là biểu tượng từ Chiếu dời đô.
Và năm Nhâm Thìn 2012 này, nhất định Rồng Đại Việt sẽ tung mây...
Nhất định thế.
                                                                                                             
Đặng Tiến,
Orleans, Tết Nhâm Thìn 2012

[1]     V.Propp. Les Racines historiques du conte merveilleux. Leningrad, 1946; Gallimard, Paris 1983.
2 Lê Thành Khôi, Histoire du VietNam, Sudestasie, Paris 1981, tr. 78.
3 E. Chavannes.Báo Journal Asiatique, số tháng 9-10, tr 193, Paris 1901. Xem thêm Huệ Thiên: “ con rồng chẳng qua là con cá sấu lên đời”, ký An Chi, báo Kiến Thức Ngày Nay, số Xuân Tân Tỵ 2001, in lại trong Những tiếng trống qua cửa các nhà sấm, tr 291, nxb Trẻ, 2004,TP HCM
4 Văn Học Dân Gian II, Hà Nội , NXB Đại Học và Trung học chuyên nghiệp, 1973, tr . 67
5 Việt Nam Phật Giáo sử Luận I,  Văn Học tái bản 1994, Hà Nội.
6 Nguyễn Phúc Long, Đoàn Kết, Paris, Xuân Mậu Thìn, tháng 2.1988
7 Huỳnh Hữu Uỷ, báo Hợp Lưu, Xuân Canh Thìn 2000, California
8  Hùng Vương Dựng Nước, nhiều tác giả, Hà Nội, Cuốn I. 1970, II .1972, III.1973, IV. 1974. Tổng cộng khoảng 1500 trang khổ lớn.
9 H.V.D.N. IV, tr. 347 và 89
10 Marcel Granet, La Civilisation Chinoise, Albin Michel, Paris 1929, tr.204














Link to full article