Thứ sáu, ngày 24 tháng năm năm 2013

The Guardian hợp nhất tất cả ấn bản vào một tên miền để phát triển

Tóm tắt: 

(ICTPress) - The Guardian thu hút hơn 80 triệu người đọc/tháng, theo những con số của ABC. 2/3 trong số những người đọc là ở ngoài nước Anh.

(ICTPress) - Các phiên bản quốc tế của báo The Guardian (Người bảo vệ) đang phát triển mạnh mẽ, nhưng trước khi tờ báo này sẽ khai trương phiên bản trực tuyến ở Australia vào cuối năm nay, tờ báo này sẽ kết hợp tất cả các trang dưới một tên miền là theguardian.com.

Gần đây, The Guardian vận hành trên 3 trang web. Trang web chính là guardian.co.uk. Tờ báo này có một URL thứ hai để hoạt động ở Mỹ là guardiannews.com, sẽ hướng tới guardian.co.uk trong một mục và các trang báo. Tờ báo này còn có một tên miền cho di động là  m.guardian.co.uk.

The Guardian mô tả sự thay đổi này là một sự thay đổi mang tính lịch sử. Vì chúng tôi đã đặt ra nhiệm vụ trở thành một tổ chức thống nhất, toàn cầu, chúng tôi hiện nay có một tên miền mà chúng tôi có thể tập hợp lại. CEO Guardian Mỹ Michael Bloom cho biết trong một cuộc phỏng vấn với Mashable cuối tuần trước “Sự thay đổi này sẽ dễ dàng hơn cho người sử dụng và các đối tác”.

Ngoài những lý do tính tượng trưng và sự thuận tiện, lý do của sự thay đổi này là vì ấn phẩm này chỉ mua các quyền tới tới tên miền từ công ty bảo hiểm nhân thọ Guardian sử dụng URL để hướng tới tên miền chính, guardianlife.com.

Trải nghiệm tên miền mới, được dự định công bố vào mùa thu này, sẽ không khác biệt hoàn toàn đối với bạn đọc. Người đọc vẫn được hướng tới phiên bản phù hợp dựa trên địa chỉ IP (ví dụ, vị trí).

Bloom cho biết đội ngũ của Guardian ở Mỹ hiện có hơn 50 người, tăng lên từ 5 người tại lễ khai trương 2 năm trước. Bloom cho biết thêm The Guardian đang thực hiện những “tuyển dụng quan trọng” để khai trương cuối năm nay.

The Guardian thu hút hơn 80 triệu người đọc/tháng, theo những con số của ABC. 2/3 trong số những người đọc là ở ngoài nước Anh.

Mai Nguyễn

Ảnh: 
Chuyên mục chính: 
Nghề báo

Link to full article

Đằng sau vụ Osin Việt Nam cưỡng hiếp ông chủ

Viết theo đề nghị của một người bạn, vì đã hứa là sẽ kể thêm những chuyện xung quanh nó cho chị, chuyện lâu rồi tôi cũng chả muốn nhắc lại nữa vì có nhắc cũng chả giúp được gì cho người lao động này mà lại chỉ thấy lòng nhức nhối:

(Entry này ko thích hợp cho người đọc dưới 18 tuổi hoặc những người lắm văn hoá nhiều tri thức và nhiều tự hào dân tộc nên không chịu nổi sự thật trần trụi).

Cuối năm 2005 đầu năm 2006 xảy ra vụ một cô Khán hộ công người Việt Nam trong lúc không cầm lòng đã có hành vi “xâm hại tự chủ tình dục” của ông chủ trong thời gian dài, một cách có hệ thống.

Trong số hơn 75 nghìn phụ nữ Việt Nam sang ĐL xuất khẩu lao động dưới dạng Khán hộ công (Giúp việc nhà, chăm sóc người bệnh và người già tại nhà), chỉ có một số ít được vào làm ở viện dưỡng lão, hộ lý các bệnh viện là nơi có điều kiện làm việc cải thiện và cởi mở hơn, có giờ làm, giờ nghỉ, được tiếp xúc với người ngoài. Còn lại tuyệt đại đa số bị giam lỏng trong 4 bức tường gia đình chủ. Nhiều cô lần đầu tiên được bước ra khỏi cửa nhà chủ chính là lúc… lên máy bay về VN sau 2 năm làm việc.

Vụ án xảy ra vào thời điểm Đài Loan đã cấm tất cả các Khán hộ công người VN sang làm việc. Số khán hộ công VN giảm dần. Xã hội ĐL lan truyền những câu chuyện rùng rợn về người Việt Nam, như Osin Việt Nam giết chủ vì mâu thuẫn, đánh gãy tay chủ, phản chủ, giết cả hai ông bà chủ rồi trốn đi tự tử, Osin VN rút ống thở Oxy của chủ, làm trẻ con chết, ngoại tình với chủ, ăn cắp và bỏ trốn là cơm bữa. Đồng thời các vụ án không hay về cô dâu như cô dâu Việt mang thuốc chuột từ Việt Nam sang giết chồng, cô dâu Việt làm gái, buôn người, buôn ma tuý, nã tiền v.v… càng làm cho thái độ của xã hội với mọi phụ nữ VN thêm khắt khe. Vào thời gian đó, việc Osin VN lạm dụng tình dục một ông chủ nhà bị bệnh nằm liệt giường, làm người ông chủ bầm tím, kéo dài trong thời gian dài v.v… làm dư luận chung ở đây rất sửng sốt và kinh hãi, phẫn nộ. Họ cho rằng đó là hành vi mất nhân tính.

Theo thông tin từ Viện kiểm sát Chương Hoá tôi có được thì ghi cực kỳ tỉ mỉ, có cả băng ghi hình cô Osin Việt Nam. Trong đó, cô Osin 40 tuổi hàng ngày chỉ có một việc là phục vụ ông chủ 39 tuổi, vì bị trúng gió mà nằm liệt giường mất tri giác chục năm nay. Trong lúc chăm sóc hàng ngày, không tránh được những việc đụng chạm thân thể hoặc những va chạm tế nhị. Bà chủ nhà bắt đầu từ giữa tháng 11/2005 đã nghi ngờ việc chồng mình khắp mình mẩy thâm tím, nghĩ là cô Osin đã hành hạ, đánh đập chồng mình, nên lắp camera theo dõi. Không ngờ những hình ảnh thu được là việc cô Osin VN hàng ngày “sau khi tắm rửa lau người cho ông chủ xong, thường nấn ná vuốt ve chỗ kín ông chủ”, sau đó “bước chân qua hai bên người ông chủ, tiến hành việc thoả mãn dục tính”.

Có ngày cô làm 2 lần, ông chủ cấm khẩu không nói cũng (có thể) không nhận thức được sự việc. Bà chủ rất phẫn nộ vì ngay cả bà là vợ mà cũng đã bao lâu nay không hề dám làm thế với chồng mình. Bà mang băng camera tới cảnh sát. Ngày 3/1/2006 cảnh sát Chương Hoá còng tay cô Osin VN mang đi, cho ở tù.

Đến đây là hết bản tin có thể đăng trên báo Tiền Phong. Và vì vụ án quá sửng sốt, toà soạn cho đăng nhưng cắt tất cả mọi chữ “Việt Nam” trong bản tin này. Chỉ nói chung chung rằng, có Osin nước ngoài hiếp chủ ĐL. Tuy nhiên đọc xong ai cũng hiểu đó là người Việt Nam. (Vì sao ai cũng hiểu ra ngay đó là người VN ???)

Kể cả bản tin sau đó vào tháng 5/2006 của tôi, đưa tin người phụ nữ này bị kết án 4 năm tù giam, toà soạn cũng không đăng và nói, thôi để sự việc trôi qua đi, đừng nhắc lại nữa, tàn nhẫn lắm.

Nhưng hành trình sau lưng bài báo từ khi cô bị bắt tới khi cô rời toà án vào ngồi tù 5/2006 có rất nhiều tranh cãi và xung đột từ nhiều phía. Rất tiếc là về phía tôi và một số tổ chức phi chính phủ cùng tìm cách giúp đỡ thì không mang lại kết quả gì, vì sự “kết án” đến từ phía xã hội ĐL là quá lớn, chúng tôi đều hiểu rằng họ (Toà án, cảnh sát ĐL) cũng phải chịu 1 sức ép rất lớn trong vụ này. (Ko rõ phía Ngoại giao VN có tặng họ tí sức ép nào ko, và sức ép về… phía nào, phía dồn trách nhiệm lên vai thủ phạm hay phía đỡ tội cho cô, thì tôi ko rõ. Ai biết nội tình của cơ quan chức năng VN làm ơn mách giùm cho chị bạn tôi nhé).

Sau khi cô Osin VN bị bắt, có rất nhiều luồng dư luận trái chiều nhau tranh cãi về tính chất phạm tội của cô Osin: Ông chủ đã nằm liệt rồi, người còn chả tự dựng lên nổi, huống hồ bảo ông dựng nổi “cái kia”? Hay là ông chủ ép buộc cô Osin phải thoả mãn cho ông nhu cầu đó? Hay ông chủ đồng tình làm việc đó cùng cô? Nếu ông đã liệt thì cô Osin VN chỉ có thể phạm tội “quấy rối tình dục” (vuốt ve, quấy rầy) thôi chứ chắc gì đã hoàn tất việc giao cấu? Tuy tranh cãi, nhưng 100% ý kiến đều cho rằng Osin có lỗi, phải bỏ tù cô này!

Trong câu chuyện, bạn bè tôi thường hỏi thăm tôi tiến độ vụ này đến đâu rồi và thương hại bảo tôi, dẫu sao chỉ là con sâu làm rầu nồi canh thôi, chúng tôi nghĩ cô này là cá biệt trong số người VN.

Sau đó bác sĩ phía ĐL cho biết, ông chủ này vẫn hơi nhúc nhích chân tay được 1 chút, có thể ngẩng được đầu 1 chút, tuy nhiên ko đủ sức để ép buộc hoặc chủ động khiêu khích cô Osin. Ngoài ra tâm thần của ông chủ không sáng suốt, hiện tượng “cương cứng” chỉ là phản xạ vật lý và thần kinh thuần tuý khi bị vuốt ve, không có nghĩa là ông chủ đồng tình với việc giao cấu. Kết luận này làm tội “xâm hại quyền tự chủ tình dục” của cô Osin VN trở nên hai năm rõ mười.

Tôi có cân nhắc lâu trước khi gửi bản tin về toà soạn. Tin độc thì báo nào chả cần. Nhưng tôi không muốn ngày nào cũng đưa những tin quá xấu và quá thê thảm về người VN ở đây, làm cho dư luận xã hội khủng hoảng lo sợ, kỳ thị và trực tiếp ảnh hưởng tới vấn đề xuất khẩu lao động đang là lối thoát nghèo cứu vớt gia cảnh hàng trăm nghìn gia đình ở nông thôn VN. Rất nhiều tin xấu về người VN ở ĐL tôi đã không viết thành tin bài mà bỏ qua. Bởi nếu nhìn khách quan thì người lao động lên thành phố đi làm thuê ở ngay chính VN cũng còn thê thảm hơn và trái ngang hơn nhiều, với “tỉ lệ rủi ro” cũng không hề nhỏ. Tuy nhiên vụ án Osin hiếp chủ thì lại khác, cô ấy làm người ĐL sợ hãi nhưng lại làm tôi thấy thương cảm ghê gớm, nhức nhối dưới thân phận một người đàn bà. Nếu bạn đọc bài báo trên TP thì thấy, trong bài đó, số chữ tôi đưa vụ cô Osin chỉ bằng 1/3 số chữ tôi viết về vấn đề Osin nữ VN đang gặp phải ở ĐL. Vụ này sẽ đánh động rất nhiều mặt của xã hội.

Tôi biết bài báo của tôi là khởi nguồn cho nhà văn Y Ban viết truyện ngắn “I am đàn bà”, nhà văn có toàn quyền hư cấu và trình diễn những quan điểm về nghệ thuật và nhân sinh trong tác phẩm của mình, tuy nhiên tôi hoàn toàn không thích cách mà “I am đàn bà” bày tỏ và thuyết phục người đọc trong vấn đề của cô Osin VN này. Người phụ nữ bản năng thì có thể, nhưng tôi không thích hình ảnh người phụ nữ ngu dốt.

Quay lại vụ án. Thủ phạm đã bị bắt, chờ ngày ra toà, mọi thứ đã rõ ràng. Vậy thì tôi cớ gì can thiệp vào?

Vì tôi cho rằng cô Osin này không có lỗi. Cô chính là nạn nhân. Ít nhất, về mặt tinh thần, cô bị dồn vào bước đường phạm tội.

Tôi nghĩ Osin VN ở ĐL cũng là một người lao động. Người lao động tức là cô có giờ đi làm, giờ tan sở, ngày nghỉ phép trong năm, ngày phép bệnh, có quyền đi chơi hoặc làm bất cứ thứ gì ngoài giờ làm việc mà cô thích. Cô có quyền yêu thương, có quyền đọc báo xem phim, có quyền ngủ, có quyền đại tiểu tiện đúng giờ, có quyền thủ dâm, có quyền thay quần áo mà không bị người khác dòm, có quyền ngủ trong 1 góc an toàn không bị ai bất chợt nhảy xổ vào. Và có quyền bị ốm.

Nhưng Osin Việt Nam ở Đài Loan bị tước đoạt toàn bộ những quyền con người ấy!

Luật pháp hiện hành của Đài Loan hiện nay cho Osin VN quyền lợi ra sao:

Osin VN phải làm việc 24/24 bất cứ lúc nào, không gian làm việc không tách với không gian ở, không có góc riêng, không có quyền tự chủ mọi hành động, không được nghỉ phép, không được quyền hưởng bất kỳ một thú vui tinh thần nào, thậm chí giản đơn như nói cũng không được, nếu chủ không đồng ý. Mà có chủ nào muốn Osin đi chơi, đi hóng chuyện, đi nghỉ, đi ốm, đi ngủ, đi xem phim, đi ăn tiệm, đi gặp đồng hương, đi dạo phố?

Chủ có quyền đặt máy quay Osin từ mọi góc độ, kể cả lúc ngủ, lúc thay quần áo, lúc tắm rồi nhìn ngắm nghía để “bảo vệ an ninh trong gia đình mình” mà không phạm luật. Thử hỏi ngược lại, có tổ chức nào dám đặt máy quay camera vào 1 gia đình để xem ông chủ đối đãi Osin có đảm bảo nhân quyền hay không? Đảm bảo chủ sẽ đập cho cái chuỳ vào mặt vỡ tan cái máy quay ra, kiện lên tận tổ chức nhân quyền thế giới ấy chứ. Thế nhưng họ lại tự cho họ cái quyền đối xử với Osin VN như thế. Và việc bà chủ có băng ghi hình Osin VN chính là kết quả của cuộc quay trộm như thế, không cần báo trước cho Osin biết.

Chủ có quyền xông vào giường Osin lục tung mọi thứ lên vào giữa đêm. Chủ có quyền ép Osin không một phút nghỉ ngơi, chủ không cần phải trả lời về vấn đề sức khoẻ tâm thần của Osin, chủ không cần coi Osin VN là người. Chủ chỉ có một nghĩa vụ duy nhất là trả đủ lương (khi đó là 15.480 tệ/tháng, hiện nay 17.280 tệ, đã tăng thêm 900 nghìn VND/ tháng, ko phải là 3 triệu như các ông ở Bộ Lao Động VN đang khoe!) cho Osin. Và mỗi ngày chủ nhật làm thêm trả 1.000 tệ. Với chủ, tao trả tiền, tức là tao đã xong nghĩa vụ, sòng phẳng, tiền tao đổi lấy mọi quyền hưởng thụ văn hoá tinh thần của mày, mày phải làm, mày không có quyền nói vì mày là một con người, mày muốn mỗi năm có một ngày được nghỉ ngơi.

Vì sao tất cả mọi Osin của Philippin ở Đài Loan dù chủ có ép chết thì họ cũng không bao giờ đi làm vào ngày nghỉ, mọi chủ nhật họ đều đi nhà thờ, tụ tập cười nói, đi chơi, dạo phố, đi chụp ảnh, gọi điện về quê… Và chưa có chủ ĐL nào trả được tiền làm thêm giờ ngày chủ nhật cho Osin Philippin, họ dứt khoát chọn tự do đi chơi và đi nhà thờ. Mọi Osin Indonesia đều nắm rõ quyền lợi của họ, chủ không dám càn quấy bắt nạt. Còn Osin VN thì không dám đấu tranh cho chính quyền lợi của mình?

Tôi không cho rằng cô Osin 40 tuổi này là trường hợp cá biệt. Vì cô chỉ có mỗi hành vi “vuốt ve, giải toả” đó là thú vui, giải trí, giảm strees, giải toả tâm tư, sự an ủi duy nhất trong 4 bức tường. Là cái duy nhất chứng tỏ cô chưa biến thành 1 cái máy. Nếu cô được chủ cho nghỉ ngơi, cho xem ti vi, có hoạt động văn hoá tinh thần, được ra ngoài, giải toả khác hẳn sự việc đã cải thiện nhiều. Nếu luật pháp ĐL mãi mãi như thế, thì sẽ còn rất nhiều những vụ như thế này xảy ra, thậm chí còn thê thảm hơn. Tôi vừa thấy thương xót vừa thấy bất bình thay cho cô Osin VN, bởi chính cô cũng ko hiểu cô cũng là một nạn nhân. Có điều người hiếp cô là cả xã hội Đài Loan.

Tôi nhờ một tổ chức luật của Đài Loan đề nghị sang toà án địa phương Chương Hoá, tôi tình nguyện phiên dịch miễn phí cho cô trước toà, kể cả cô phải qua bao nhiêu phiên xử. Tôi tìm một luật sư đề nghị giúp đỡ cô trong vụ này. Dù tôi chỉ là một phóng viên nước ngoài, tôi không có tư cách can thiệp vào các vấn đề dân sự và hình sự của nội bộ ĐL.

Cô Osin vẫn có luật sư do toà chỉ định rồi. Nhưng tôi muốn giúp cô tìm 1 luật sư có thể thật sự bảo vệ cô.

Ở ĐL tôi chỉ quen một số tổ chức luật đứng ra bảo vệ di dân, một số tổ chức phi chính phủ có thể bỏ tiền ra giúp đỡ, một vài văn phòng NGO của Ý, của Mỹ, của nhà thờ có thể giúp, một vài tổ chức giúp đỡ người nghèo ĐL và cũng có chủ trương giúp cả người VN nữa v.v… Sau khi liên hệ và hỏi ý kiến một số người trong ngành luật, tôi tìm đến một luật sư vừa nổi tiếng vừa có kinh nghiệm về vấn đề hai giới, giới tính, phụ nữ v.v… Tuy nhiên vì 1 số lý do khách quan mà phiên toà đã diễn ra ở pháp đình cách ĐB vài trăm km không có tôi và cũng không có luật sư của văn phòng có mặt.

Toà tuyên án, thủ phạm bị phạt bốn năm tù.

Tôi viết bài báo cho Liên Hợp báo: “Osin hiếp chủ, nhưng xã hội Đài Loan mới là người bị tuyên án tù”. Chỉ có hai đoạn: 1: “Vì sức lao động là một sản phẩm, nên con người cũng bị coi là thứ máy móc sản xuất ra sản phẩm đó ư?” 2: “Đài Loan đang bỏ rơi Osin nước ngoài!”

Toà soạn báo Đài Loan tế nhị nói, giá như cô cung cấp cho chúng tôi các thông tin như: Thủ phạm ở VN có gia đình ra sao, chồng con thế nào, đã phạm tội chưa, nữ giới Việt Nam có hay hiếp chủ thế này không v.v… thì bài mới đăng được. Vì đó sẽ là thông tin độc quyền.

(Chuyện cũ mấy năm rồi, kể lại rất là khó chịu, thôi cứ kể nốt cho xong).

Thế là xong, cô Osin sẽ ra tù năm 2010. Tôi mới chỉ đi thăm các lao động bị tù trong trại thu dung vài huyện thị, nói chuyện với họ, tôi cũng mới chỉ tiếp xúc với các lao động khi vừa bị cảnh sát bắt về đồn, tôi cũng chỉ tiếp xúc với họ ở toà án hoặc ở bệnh viện, hoặc nhận những cú điện thoại của họ báo tin, em trốn rồi chị ạ, em trốn khỏi nhà tạm giam rồi, em trốn khỏi nhà chủ rồi, em trốn khỏi Đào Viên rồi, em trốn nữa. Cô Osin mà tôi nhắc đến trong bài này chắc chắn có ngỏ cửa cũng không bao giờ muốn trốn. Biết về đâu khi gia đình họ tộc đã biết về vấn đề của cô? Biết cô ngồi tù vì lý do quá sức chịu đựng của người nhà quê kia?

Điều đáng thương nữa và rất ngậm ngùi là sau bài báo, có rất nhiều người ở VN tìm cách gửi thư, nhắn tin, hỏi thăm tôi qua mọi đường, qua toà soạn, hỏi tôi xem có thể cung cấp cho họ tên cô Osin này là gì, quê quán chính xác là ở đâu không?

Vì họ có mẹ đẻ cũng tầm tuổi đó đang lao động ở ĐL, vì cô họ, dì họ, chị họ, thím, mợ, chị chồng, em họ v.v… đang lao động ở ĐL, đang tuổi đó. Và họ thấp thỏm rằng cô Osin hiếp chủ đó chính là người thân của họ. Những gia đình đấy tin rằng người thân của họ đến một mức độ nào đó, xa quê lâu, hoặc buồn chán, hoặc bị lôi kéo v.v… hàng nghìn lý do mà rồi có thể sẽ làm như cô Osin. Tức là nhìn thấy trường hợp cô Osin rất gần gũi, rất có thể, rất dễ là…

Một người hảo tâm giấu tên đề nghị sau khi cô ra tù, sẽ cho cô một khoản tiền cực lớn, để cô về Việt Nam đưa chồng con bỏ trốn khỏi địa phương, tránh khỏi dư luận, khoản tiền đủ để gia đình cô làm lại cuộc đời mới tươi sáng, xoá sạch quá khứ.

Kỷ niệm cuối với bài báo: Hôm báo ra, chồng tôi đang đào đường đặt cáp quang về một xã heo hút không có điện cách Mù Cang Chải còn mười mấy cây số. Vớ được tờ Tiền Phong, chạy ngay xe Win về lán trọ khoe với các công nhân khác cùng tổ thợ, bài vợ tao viết nè, vừa đọc vừa cười sằng sặc với nhau. Đọc xong bài báo nhìn ra cái Win đen đã không cánh mà bay!

(P/S: Nên gần đây tớ có ý định mua lại 1 chiếc Win chạy mỗi lúc về VN, loanh quanh thế nào rốt cuộc lại vào chửi nhau trong này: http://muare6.vinahoo.com/forum/oto-xemay/1381690.ttvn)


Link to full article

Một số suy nghĩ về Trung tâm Xuất sắc

Giáp Văn Dương 

Trung tâm Xuất sắc (Centre of Excellence) là một mô hình tổ chức nghiên cứu khoa học và công nghệ tương đối mới, đã được một số nước anh Anh, Úc, châu Âu, Hàn Quốc, Brazil… sử dụng trong thời gian gần đây. 

Được biết, ngay từ năm 2005, Việt Nam đã có ý định tiếp cận mô hình này, và có thể sẽ triển khai ở qui mô rộng từ nay đến năm 2020. Tuy nhiên, thế nào là Trung tâm Xuất sắc, và làm sao để có Trung tâm Xuất sắc, lại là vấn đề chưa được thảo luận rõ ràng. Vì thế, bài viết này sẽ trình bày một số ý kiến cá nhân của tác giả về Trung tâm Xuất sắc, và chỉ giới hạn trong lĩnh vực khoa học – công nghệ. 

Trung tâm Xuất sắc là gì? 

Như được phản ánh trong tên gọi của nó, Trung tâm Xuất sắc được hiểu là một cơ sở thực sự xuất sắc, đóng vai trò dẫn dắt trong lĩnh vực mà nó hoạt động. Vai trò của nó không chỉ là tạo ra các sản phẩm xuất sắc, mà còn tạo ra những chuẩn mực xuất sắc cho các cơ sở khác noi theo. Điều này có nghĩa, sự xuất sắc phải được đánh giá trong lĩnh vực nó hoạt động, chứ không phải trong phạm vi địa lý mà nó thuộc về. 

Nói ngắn gọn, Trung tâm Xuất sắc phải đứng ở tuyến đầu trong lĩnh vực mà nó hoạt động, xét ở tầm mức quốc tế. 

Trung tâm Xuất sắc có thể xuất hiện trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Trong lĩnh khoa học – công nghệ, do bản chất không biên giới của tri thức, nên Trung tâm Xuất sắc là nơi sản xuất ra các công trình khoa học, công nghệ ở tầm dẫn dắt thế giới (world-leading class). Điều này có nghĩa, chất lượng các công trình nghiên cứu của nó phải được cộng đồng khoa học quốc tế thừa nhận. 

Đây là một điểm rất tế nhị đối với các nước có nền khoa học còn kém phát triển. Với các nước đó, đạt đẳng cấp dẫn dắt ở tầm mức thế giới là điều rất khó, nên họ sẽ có xu hướng “hạ chuẩn”, thay vì dẫn dắt ở mức quốc tế, họ đổi thành dẫn dắt ở mức quốc gia. Đây là một sự đánh tráo có chủ ý khái niệm xuất sắc, thay vì xuất sắc trong lĩnh vực mà nó hoạt động, họ lại đổi sang địa lý cục bộ mà nó thuộc về. 

Sự đánh tráo này sẽ vấp phải sự mâu thuẫn lớn với bản chất không biên giới của tri thức, rằng tri thức có tính phổ quát và phi biên giới, nên một tri thức được coi là xuất sắc thì phải được quốc tế thừa nhận. Chẳng hạn, nếu Việt Nam xây dựng một Trung tâm Xuất sắc về Toán, Vật lý, Công nghệ sinh học hay Công nghệ thông tin… thì sản phẩm của nó phải được công bố và thừa nhận bởi cộng đồng các nhà khoa học quốc tế, chứ không phải bởi cơ quan chức năng hau các cơ sở nghiên cứu ở trong nước. 

Tương tự như trong lĩnh vực khoa học công nghệ, trong lĩnh vực đào tạo cũng có Trung tâm Xuất sắc. Đó là nơi đào tạo tốt nhất, có đội ngũ giáo sư giỏi nhất, sinh viên giỏi nhất, thành tích học thuật nổi bật nhất. 

Còn trong lĩnh vực dịch vụ, Trung tâm Xuất sắc là nơi cung cấp dịch vụ nhanh nhất, đầy đủ nhất, hình thức mới nhất, sử dụng nền tảng công nghệ mạnh nhất. 

Tóm lại, Trung tâm Xuất sắc, dù ở trong bất cứ lĩnh vực nào, thì cũng đều phải đứng ở tuyến đầu của tri thức và đóng vai trò dẫn dắt, định chuẩn trong lĩnh vực mà nó hoạt động. 

Nếu không làm được điều này thì trung tâm đó không có lý do gì để được gọi là Trung tâm Xuất sắc. 

Đặc điểm của Trung tâm Xuất sắc? 

Ở cấp độ cá nhân: Trung tâm Xuất sắc là nơi hội tụ các cá nhân xuất sắc, là nơi nhân tài tụ về làm việc và cống hiến. Do đó, một trong những đặc điểm tiên quyết của Trung tâm Xuất sắc là con người xuất sắc, đặc biệt quan trọng là lãnh đạo xuất sắc. 

Ở cấp độ trung tâm: Do phải cạnh tranh với các trung tâm nghiên cứu trên tòan thế giới, Trung tâm Xuất sắc thường tập trung vào một lĩnh vực mũi nhọn, với trang thiết bị hiện đại và hệ thống hỗ trợ mạnh. 

Ở cấp độ hệ thống: Các Trung tâm Xuất sắc thường liên kết tạo thành chuỗi các trung tâm để hỗ trợ nhau, nhưng vẫn nhắm đến việc giải quyết những bài toán lớn trong một lĩnh vực cụ thể nào đó, ví dụ: Công nghệ sinh học, năng lượng tái tạo, Công nghệ thông tin…, thông qua cơ chế chia sẻ tài nguyên, chia sẻ trang thiết bị đắt tiền, và đặc biệt là kết nối với các Trung tâm Xuất sắc quốc tế. 

Muốn làm được những điều như vậy, Trung tâm Xuất sắc phải có cơ chế làm việc ưu tiên, đặc biệt hơn so với các trung tâm thông thường. 

Như vậy có thể thấy, đặc điểm chung của Trung tâm Xuất sắc là mọi yêu cầu và chuẩn mực của nó phải đạt mức xuất sắc. Chi tiết hơn, đó phải là nơi hội tụ tài năng trong nước và quốc tế, là nơi được ưu đãi về cơ chế và cơ sở vật chất, là nơi mà tinh thần tự do học thuật được xiển dương, mạo hiểm khám phá được ủng hộ. 

Làm thế nào để có Trung tâm Xuất sắc? 

Muốn có Trung tâm Xuất sắc, điều kiện tiên quyết là trước hết phải tập hợp được những con người xuất sắc, hội tụ được tài năng trong nước và quốc tế. Tài năng này không chỉ tài năng chuyên môn, mà còn mở rộng ra sang các lĩnh vực khác như tài năng lãnh đạo và quản lý, tài năng trong hệ thống kết nối và hỗ trợ. 

Điều kiện thứ hai là phải xác lập được các chuẩn mực xuất sắc cho các trung tâm này để định hướng và đánh giá hoạt động cho tòan trung tâm, đồng thời làm cơ sở cho các trung tâm đồng nghiệp noi theo. 

Điều kiện thứ ba là phải có cơ chế ưu đãi đặc biệt cho trung tâm này. Một trung tâm chỉ có thể trở thành xuất sắc nếu cơ chế hoạt động của nó cũng phải xuất sắc. 

Điều kiện thứ tư là trung tâm phải có cơ sở vật chất tốt, và trang thiết bị hiện đại, đồng bộ. Nếu không có cơ sở vật chất xuất sắc thì không thể triển cạnh tranh được với các trung tâm khác trên thế giới. 

Điều kiện thứ năm là phải có hệ thống hỗ trợ mạnh. Nếu không có hệ thống hỗ trợ này, trung tâm không thể hoạt động hiệu quả được. 

Điều kiện thứ sáu là trung tâm phải kết nối tích cực và hiệu quả với các Trung tâm Xuất sắc quốc tế, tạo sự giao lưu trao đổi về nhân lực, và đặc biệt là chuẩn mực trong các hoạt động của mình. 

Tóm lại, để có Trung tâm Xuất sắc thì mọi yếu tố liên quan như con người, chuẩn mực, cơ chế vận hành, cơ sở vật chất, hệ thống hỗ trợ, giao lưu quốc tế… đều phải đạt mức xuất sắc. Đó là những điều kiện hiển nhiên cần đáp ứng khi tính chuyện xây dựng các Trung tâm Xuất sắc. 

Trường hợp Việt Nam 

So với các nước phát triển, việc thành lập Trung tâm Xuất sắc ở Việt Nam gặp nhiều khó khăn gấp bội. Có thể liệt kê một số khó khăn đó như sau: 

1. Nhân lực xuất sắc là khó khăn lớn nhất mà Việt Nam phải đương đầu. Giả sử Việt Nam sẽ thành lập 60 Trung tâm Xuất sắc, tương ứng với 60 cơ sở nghiên cứu khoa học cơ bản và ứng dụng đạt trình độ khu vực và thế giới trong “Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ gia đoạn 2011-2020”, thì với giải thiết mỗi trung tâm cần ít nhất hai nhà khoa học xuất sắc ở trình độ thế giới, thì sẽ cần tối thiểu là 120 người như vậy. Đây là con số rất lớn. Nếu không có cơ chế đặc biệt để thu hút các nhà khoa học nước ngòai thì khó có thể thực hiện được. 

2. Nền tảng khoa học công nghệ chung của Việt Nam còn thấp, truyền thống khoa học mỏng. Đó là thực tế không thể lảng tránh. 

3. Cơ chế vận hành chung của tòan hệ thống quan liêu, nặng nề. Điều này đã trở thành nút cổ chai cho mọi mọi động của xã hội, không chỉ của lĩnh vực khoa học và công nghệ. 

4. Hệ thống hỗ trợ nặng tính hành chính, kém hiệu quả. Đó cũng là một thực tế cần phải xem xét. 

5. Nền công nghiệp chưa phát triển, liên thông nghiên cứu-công nghiệp hạn chế. Đó cũng là một thực tế ảnh hưởng đến việc xây dựng các Trung tâm Xuất sắc. 

6. Quy mô nền kinh tế nhỏ, nặng tính đầu cơ chụp giật, thị trường khoa học chưa hình thành, gây ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của các hoạt động khoa học và công nghệ nói chung. 

7. Xác định lĩnh vực ưu tiên chưa thực sự rõ ràng. Lý do: các hoạt động khoa học công nghệ chỉ thực sự có sức sống bền vững khi kết nối và đáp ứng được các đòi hỏi của nền công nghiệp. Tuy nhiên, công nghiệp Việt Nam vẫn ở tình trạng nhỏ lẻ, chưa có các ngành mũi nhọn ghi được dấu ấn trên thế giới. Điềi này ảnh hưởng lớn đến việc xác định lĩnh vực ưu tiên của các trung tâm nghiên cứu khoa học và côn nghệ. 

8. Đầu tư cho cơ sở vật chất và trang thiết bị hạn chế so với tình hình chung của thế giới, đặc biệt là so với các nước phát triển. Lý do là ngân quỹ dành cho khoa học thấp. Chẳng hạn, Hàn Quốc với số dân khoảng 50 triệu người thì dành kinh phí cho khoa học lên đến khoảng 50 tỷ USD/năm, trong khi Việt Nam, với số dân 90 triệu người thì kinh phí dành cho khoa học, tuy chưa được công bố chính xác, nhưng vào khoảng 2% ngân sách, ứng với mức khoảng 800 triệu USD/năm. Với mức đầu tư hạn chế như vậy, việc xây dựng một hệ thống cơ sở vật chất hiện đại, đồng bộ là rất khó khăn. 

9. Tự do học thuật chưa đảm bảo; các hoạt động khoa học chịu sự chi phố nặng nề của chính trị, nặng tính phong trào, dẫn đến chuẩn mực học thuật thấp. 

10. Tinh thần khoa học đại chúng chưa hình thành rõ ràng, cộng hưởng với nền công nghiệp nhỏ, nên nguồn cung nhân lực khoa học kỹ thuật trình độ cao bị hạn chế. 

11. Số lượng phát minh sáng chế quá ít, chứng tỏ tính sáng tạo và dẫn dắt thấp. Chẳng hạn, trong khoảng thời gian 2006-2010, Việt Nam chỉ có 5 bằng sáng chế được đăng ký tại Mỹ, trong khi Nhật có gần 200 nghìn bằng, Đức có hơn 50 nghìn bằng, và Singapore có khoảng 2500 bằng. 

12. Khả năng kết nối với thế giới của các nhà khoa học Việt Nam yếu, do chênh lệch về trình độ, về ngọai ngữ, về động cơ làm việc v.v. 

Ngòai những khó khăn đã nêu trên, thì có một khó khăn thoạt nhìn thì rất tầm thường, nhưng nhìn kỹ thì rất lớn. Đó là: Đặt các Trung tâm Xuất sắc này ở đâu? Trong hệ thống Trường, Viện đã có, hay xây mới hòan tòan? Hay phân phối về các địa phương? Nếu đặt trong các Trường, Viện đã có thì sẽ có mâu thuẫn với cơ sở cũ về đủ mọi mặt: cơ chế vận hành, chế độ ưu đãi… nên sẽ rất khó phát huy tác dụng. Còn nếu đặt bên ngòai hệ thống Trường, Viện đã có thì điều này giống như việc xây dựng một hệ thống mới song hành với hệ thống cũ, nên tất yếu xảy ra va chạm giữa hai hệ thống. Còn nếu phân phối cho các địa phương, giả sử mỗi tỉnh thành có một Trung tâm Xuất sắc, thì thất bại là điều cầm chắc trong tay, do sự thiếu hụt nhân lực xuất sắc ở các địa phương là điều có thể nhìn thấy trước. 

Như vậy, rõ ràng rằng, để trả lời câu hỏi “Đặt ở đâu?” tưởng chừng rất đơn giản này, Việt Nam cần phải rà lại toàn bộ hệ thống tổ chức các hoạt động khoa học của mình. 

Thay lời kết 

Vấn đề lớn nhất của khoa học, công nghệ, văn hóa, giáo dục… Việt Nam hiện giờ là sự trung thực và hội nhập theo tiêu chuẩn quốc tế, tức là trở lại sự bình thường từ trạng thái bất thường. Điều này cũng có nghĩa, trước khi xuất sắc, thì ít nhất cần phải đạt mức chuẩn mực bình thường như của thế giới. Trong quan niệm đó, cải tạo hệ thống các Trường, Viện hiện có theo chuẩn mực của thế giới sẽ hữu ích và đỡ tốn kém hơn việc xây dựng một hệ thống các Trung tâm Xuất sắc mới. 

Tuy nhiên, cũng không thể phủ nhận, việc hướng đến thành lập các Trung tâm Xuất sắc ở Việt Nam, về mặt lý thuyết, là một tín hiệu đáng ghi nhận. Song, với nguồn lực hạn chế về mọi mặt trên thực tế, thì tham vọng về việc triển khai đồng loạt các Trung tâm này lại tiềm ẩn một rủi ro đáng lo ngại, vì thế cần phải cân nhắc cẩn trọng. 

Trong hòan cảnh hiện thời, nếu quyết tâm xây dựng các Trung tâm Xuất sắc thì chỉ nên xây dựng bốn trung tâm tại một số trung tâm học thuật lớn, như Hà Nội, Tp HCM, Huế, Cần Thơ. Và để đảm bảo các Trung tâm này thực sự là Trung tâm Xuất sắc, bên cạnh việc xác định lĩnh vực nghiên cứu đúng thế mạnh của Việt Nam và đáp ứng các yêu cầu về tất cả các mặt, như con người, cơ sở vật chất, cơ chế làm việc, khả năng kết nối… ở mức xuất sắc, thì cũng nên đặt các trung tâm này ra ngòai hệ thống Trường, Viện hiện hành để nó có thể tự chủ và hoạt động hiệu quả. 

-----

Link to full article

Nhà báo Hữu Thọ: Không có phong bì thì không đi được, không lọt được!

Tóm tắt: 

"Phong bì hàng trăm triệu, vài trăm triệu lại là ở những cửa quan. Ở những chỗ đấu thầu, đề bạt chỗ đó mới nhiều tiền, còn ở bệnh viện thì tiền không nhiều nhưng lại phổ biến".

"Phong bì hàng trăm triệu, vài trăm triệu lại là ở những cửa quan. Ở những chỗ đấu thầu, đề bạt chỗ đó mới nhiều tiền, còn ở bệnh viện thì tiền không nhiều nhưng lại phổ biến" - nhà báo Hữu Thọ, nguyên Trưởng ban Tư tưởng - văn hoa trung ương cho biết.

Ảnh minh họa

Phong bì là trá hình của hối lộ

PV: Thưa ông, xã hội đang phải đối mặt với vấn nạn phong bì phổ biến như một bệnh dịch ở hầu hết các ngành, các lĩnh vực. Theo ông, thứ bệnh dịch này xuất hiện do nguyên nhân nào và từ bao giờ?

Nhà báo Hữu Thọ: - Trước hết phải nói rằng phong bì là một truyền thống tốt đẹp, có từ lâu đời. Con mừng tuổi cha, cháu mừng tuổi ông, trò mừng tuổi thầy đều có phong bì.

Phong bao dịp Tết cũng là một hình thức khác của phong bì. Nghĩa là phong bì cũng là một hình thức tốt đẹp của truyền thống xã hội.

Nhưng rồi ngày càng bị biến tướng thành một tệ nạn hối lộ mà không ai khẳng định được nó xuất hiện từ bao giờ. Nhưng theo tôi được biết, trong một cuốn sách "Trai nước Nam làm gì" của Hoàng Đạo Thúy viết trước Cách Mạng tháng 8, bác đã có nói đến phong bì. Nghĩa là nạn phong bì nó có trước khi cách mạng thành công, từ thời quan lại phong kiến cũng có rồi.

Rồi đến ngày nay, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới nó đã trở nên phổ biến. Trong một lần tôi đi Châu Âu, trong một cuốn sách hướng dẫn kinh doanh bằng tiếng Pháp, của nước ngoài đã có hướng dẫn cụ thể về cả định lượng, số lượng phong bì cho từng đối tượng khi muốn gặp quan chức Việt Nam.

Nó cụ thể đến mức khi gặp được quan chức thì phải qua bao nhiêu cửa, đưa bao nhiêu phong bì, số tiền là bao nhiêu. Từ anh lính gác, tới anh thư ký, rồi tới anh sếp. Khi đó, tôi chỉ coi đó là vấn đề sơ bộ.

Nhưng gần đây nó trở thành phổ biến mà người ta hay gọi đó là "văn hóa phong bì", thứ văn hóa đó không có thì không đi được, không lọt được. Văn hóa đó nó xuất hiện từ cửa quan tới bệnh viện, từ công đường tới nhà trường... Thực chất nó là sự trá hình của hối lộ.

Quà biếu thì có nhiều dạng chứ không phải chỉ có phong bì. Một chai rượu đắt tiền, căn hộ, miếng đất là dạng những quà biếu tính chất hối lộ.

Và nạn hối lộ này cũng không phải chỉ có ở thời hiện tại mà nó cũng đã xuất hiện từ lâu, đến nỗi cụ Đặng Huy Trứ đã đúc kết 103 trường hợp được và không được nhận phong bì trong cuốn sách "Từ thụ yếu quy".

Trong 103 trường hợp đó chỉ có 5 trường hợp được nhận: Trò biếu thầy, con biếu bố mẹ (người thân biếu nhau, con biếu cha, cháu biếu ông, bạn bè thủa hàn vi biếu nhau) đầy tình nghĩa; những người đã từng giúp mình thành đạt, có thể là công việc, giúp để có một vị trí xã hội thì cũng phải tri ân đó là những cái cho nhận, những mối quan hệ đầy tình nghĩa, tri ân.

PV: - Ông cũng từng nói tới vấn nạn "chạy chọt" là nói đến đi cửa sau, không đàng hoàng nhưng ai không "chạy" lại bị xem là kẻ hâm, kẻ không thức thời, bị thiệt thòi cho nên đua nhau "chạy". Đến thời điểm này ông còn bảo lưu nhận định đó nữa không, vì sao vậy thưa ông?

Nhà báo Hữu Thọ:- "Chạy" là một hình thức không đàng hoàng. "Chạy chọt" có nhiều cách "chạy" chứ không phải chỉ có phong bì. Khi là phong bì, khi là dự án, khi là suất học bổng, một chỗ làm, một cái nhà, ô tô, nữ trang.... tất cả đều là "chạy". Vật liệu đi chạy là rất đa dạng chứ không phải chỉ có tiền, mà chạy lại có nhiều cách chạy "đánh thẳng thì dễ đỡ, đánh vòng thì khó tránh", chạy qua con, qua vợ, qua cấp dưới...

Vậy, chạy chức, chạy quyền, chạy học hàm học vị, chạy nhiều cửa thì cái gốc nằm ở đâu? Cửa chạy phải là người có chức có quyền. Nếu muốn bịt phải bịt người có quyền ví dụ trong trong hệ thống tổ chức thì cơ quan tham mưu. Hệ thống dự án, thì phải bộ nào đó, sở nào đó có quyền đề bạt tới các cơ quan có quyền quyêt định.

"Chạy" ai cũng biết là xấu, là không đàng hoàng nhưng nó lại nguy hiểm là nó lại "chạy" được, mà "chạy" được thì người không "chạy" lại thấy bị thua thiệt nên người ta đua nhau "chạy". Nên mới có chuyện "chạy" trở thành phổ biến, mà khi phổ biến thì nó lại có sự cạnh tranh chạy. Đã có cạnh tranh thì sự chạy lại có sự cao giá, tăng giá, làm giá với nhau.

Hà Nội bôi không trơn vì phong bì chưa đủ nặng

PV:- Liên quan tới việc nhận phong bì, phát biểu mới đây của Bộ trưởng y tế, cho nhận phong bì sau điều trị đã được cấp dưới mau mắn ủng hộ. Thưa ông, có thể đồng tình rằng vì lương bác sĩ thấp mà coi nhận phong bì cảm ơn của bệnh nhân là một điều gì hợp lý và thuận với nguyện vọng của bệnh nhân không?

Nhà báo Hữu Thọ: -Tôi cũng biết Bộ trưởng y tế rất kiên quyết trong việc nhận phong bì, nhưng gần đây lại cho nhận phong bì sau khi điều trị. Tôi cho Bộ trưởng đúng.

Tôi kể chuyện thật của bản thân tôi, khi tôi bị ốm nằm bệnh viện, tất cả các bác sĩ khi đó cũng rất tốt nhưng tôi quan tâm tới một chị y tá, chị ấy rất nghèo, lại tận tụy chăm sóc bệnh nhân. Hàng ngày chị lóc cóc chiếc xe đạp đi làm nuôi hai đứa con. Khi tôi ra viện tôi đã bàn với anh Vũ Kỳ (thư ký của Bác Hồ cũng nằm viện cùng với tôi) là phải giúp chị cái gì đó. Nếu tặng hoa thì chị cũng không có chỗ mà cắm vì nhà chị quá nghèo.

Để cảm ơn người đã giúp mình, chúng tôi đã làm hai phong bì, và mua mỗi người 1 bông hoa. Đó là tiền tri ân chứ không phải tiền hối lộ.

Nhưng đừng nên coi đó là bù đắp lương, nhất là trong xã hội hiện nay. Lương không đủ sống thì phải điều chỉnh thang bảng lương. Cái lý bù đắp lương chỉ là mang tính chất tạm thời.

Ở đây có hai việc, một đã là tiền tri ân thì không nhiều. Nghĩa là tiền ít nhưng lòng nhiều, nó gói lại một tình cảm lớn lắm, ý nghĩa lắm. Thứ hai, một vấn đề phức tạp hơn là đưa lúc này tôi chưa đòi hỏi nhưng tôi sẽ ghi một món nợ để một lúc nào tôi sẽ đòi lại.

Nghĩa là trong từng việc cụ thể bao giờ cũng có nửa tối nửa sáng. Có những việc rất tốt nhưng cũng có những việc không hoàn toàn tốt. Nên, mới nói đưa và nhận phong bì là vấn đề rất tế nhị.

Chính vì vậy, chúng ta phải ngăn chặn nạn phong bì hối lộ nhưng không được cực đoan đến mức bỏ đi tất cả những tình cảm tốt đẹp giữa quan hệ con người với con người, con người với xã hội.

Tôi ví dụ tôi dạy học 30 năm, học trò rất đông tết các anh thường mang biếu tôi có khi chai rượu, thuốc lá, có khi là tiền. Tôi nhận chứ, vì đó là trò biếu thầy. Đó là tiền tình nghĩa thì tôi nhận. Nhưng tiền đó thường là không nhiều đâu.

Nhưng cũng có những trường hợp tiền nhiều người ta vẫn nhận. Ví dụ như Chí Trung với Bộ trưởng Đinh La Thăng, Đinh La Thăng biếu 100 triệu, Chí Trung nhận. Tôi cho rằng anh đó cũng không có lỗi.

Không nên quá cực đoan, phải quyết liệt chống nạn hối lộ nhưng không giảm đi tình ân nghĩa. Còn hối lộ, tức là tôi đưa cho anh một khoản tiền nhưng tôi yêu cầu anh phải làm cho tôi một việc mà pháp luật không cho phép.

PV: - Bí thư Thành ủy Hà Nội có phát biểu các doanh nghiệp làm ăn ở những nơi khác bôi thì trơn nhưng ở Hà Nội có bôi cũng không trơn. Nhưng vị Bí thư cũng không thể chỉ ra được trường hợp nào bôi mà không trơn cũng như Thành ủy Hà Nội cũng không thể tìm ra được ai chạy chức, chạy quyền sau lời nói của ông Trần Trọng Dực, Trưởng ban Kiểm tra Thành ủy Hà Nội?

Do phong bì có thuật tàng hình hay có những rào cản ngăn trở nỗ lực của các vị lãnh đạo đạt tới kết quả khả quan? Ông bình luận thế nào về thực thực trạng này, thưa ông?

Nhà báo Hữu Thọ:- Bây giờ mọi việc đều có giá, khi bôi không trơn nghĩa là không đủ sức để trơn chứ không phải nó không có thế lực. Tôi nhớ một câu nói rất nổi tiếng "cái gì không mua được bằng tiền thì mua được bằng rất nhiều tiền". Chính vì có sự cạnh tranh giá càng ngày càng cao thì cái lợi mang lại ngày càng nhiều. Cái lợi đó là bóc lột từ chính nhân dân, từ ngân sách nhà nước.

Còn vấn đề chạy chức, chạy quyền, tôi cũng đã nói sẽ không thể điều tra được.

Vì, người chạy không dám khai. Chạy mà khai thì một phần vi phạm đạo đức,quan trọng hơn là mất luôn kết quả chạy. Người nhận không bao giờ nhận, vì nhận cũng vi phạm đạo đức, là phạm pháp, là mất chức quyền. Còn cơ quan được thẩm định thì bảo vệ nhau. Ví dụ, chấm phúc khảo có bao giờ được đâu, nếu được thì vô tình tôi đã phủ nhận bạn của tôi chấm ở sơ khảo là sai.

Hay chấm luận án, đôi khi không phải chấm trò mà là chấm thầy. Tôi vác luận án này tôi phải nghĩ tới người thầy hướng dẫn luận án đó. Nghĩa là sợ thầy, ngại thầy mà chấm cho trò.

Nên tôi mới nói là không thể điều tra được. Trên thực tế, 100 triệu là cái chức nào ấy be bé chứ chỉ một chức phó phòng trong quận nào đó thôi cũng đã có vài trăm triệu rồi. Mà trong pháp luật lại trọng "chứng" chứ không trọng "cung", nghĩa là trọng chứng cứ chứ không trọng lời khai. Nên thông thường những vụ án liên quan đến chạy chọt là rất khó xử.

Nhưng có một vấn đề đặt ra, tôi không xử được anh nhưng tôi có quyền không cử anh vì dư luận của anh xấu, anh mất lòng tin, mất tín nhiệm.

Phong bì trăm triệu phải ở cửa quan

PV: -Ranh giới giữa phong bì tri ân, nghĩa tình với phong bì hối lộ là rất mong manh. Một phong bì tri ân thì rất đáng trân trọng nhưng theo ông, lòng tốt, lòng tri ân có thật sự nhiều đến mức phổ biến ở mọi lúc, mọi nơi, mọi hoàn cảnh, dưới mọi hình thức mà không có thì không thể đi được, không lọt được như ông đã nói? Theo ông, đó là loại phong bì gì vậy, tại sao nó lại phổ biến và lan nhanh như một thứ cỏ dại?

Nhà báo Hữu Thọ: - Ở đây có hai loại, loại thứ nhất tôi đưa phong bì có tính chất hối lộ là để buộc anh phải làm một việc mà luật pháp không cho phép làm. Loại thứ hai, là phong bì bệnh viện, nhà trường, cơ quan công sở thì thường phong bì đưa vào đó không quá lớn nhưng phong bì ấy nó có ý nghĩa là để chống lại cái nhũng nhiễu.

Chúng ta hay nói tới tham nhũng, nhưng trong xã hội phải nhũng mới tham được. Từ chỗ nhũng nhiễu đó thì anh phải tìm cách hối lộ tôi, để giảm bớt cái nhũng đó.

Có nghĩa là cố tình duy trì cái nhũng để tham. Đó cũng là tình trạng mà chúng ta phải chống quyết liệt. Vì hiện nay tình trạng nhũng nhiễu cũng rất phổ biến. Ví dụ tôi muốn nhanh thì đưa ít tiền để được ưu tiên hơn những người khác. Tôi điểm thấp, đưa ít tiền để được điểm cao...

Nhưng đó chỉ là nhũng nhiễu còn tham nhũng lớn nó nằm ở chỗ khác. Phong bì hàng trăm triệu, vài trăm triệu lại là ở những cửa quan. Ở những chỗ đấu thầu, đề bạt chỗ đó mới nhiều tiền, còn ở bệnh viện thì tiền không nhiều nhưng lại phổ biến.

PV: - Hiện tượng đó có báo hiệu một sự suy đồi cấp cao hơn trong xã hội? Nếu cứ tiếp tục như vậy, xã hội của chúng ta sẽ đi tới đâu? Ông có cho rằng sẽ cải thiện được vấn nạn này và theo ông, chúng ta phải làm gì?

Nhà báo Hữu Thọ:- Tất cả đều bắt nguồn từ sự nhũng nhiễu trong xã hội. Không ai muốn đưa phong bì đút lót cả. Tôi nghĩ rằng tình trạng này sẽ ngày càng ít đi một khi nó được minh bạch.

Tất cả những cái đó chưa có luật pháp, và sự tỉ mỉ, sòng phẳng. Tôi nói ví dụ tất cả những cả quà biếu của lãnh đạo là của nhà nước. Khi tổng thống Bill Clinton từ nhiệm chức tổng thống ông có mang về một số tặng phẩm của quốc gia biếu ông trong đó có bức khảm xà cừ của TP.HCM. Ông mang về cũng được nhưng phải được định giá. Bức tranh đó đã được định giá là 500USD, và Clinton phải nộp lại 500USD khi mang tranh về.

Tôi cho rằng, ở nước ta cũng phải có những quy định cụ thể. Ví dụ quy định, như thế nào thì không được phép nhận, quà biếu bao nhiêu là được nhận.

Tôi được biết, đối với lãnh đạo, thành viên LHQ đi đến đâu mà nhận quà thì mất chức ngay. Họ có quy định rất cụ thể giới hạn vật phẩm trị giá bao nhiêu thì mới được phép nhận, bao nhiêu là không được nhận. Nếu nhận bằng tiền thì mất chức ngay.

Xin cảm ơn ông!

Theo Hiếu Lam (ĐVO)

Ảnh: 
Chuyên mục chính: 
Nghề báo

Link to full article

'Không giới hạn báo chí đưa tin tiêu cực'

Tóm tắt: 

Tất cả tiêu cực phát hiện được đều từ báo chí. Không có lý gì không phối hợp với báo chí.

Tất cả tiêu cực phát hiện được đều từ báo chí. Không có lý gì không phối hợp với báo chí - Bộ trưởng GD-ĐT Phạm Vũ Luận khẳng định bên hành lang QH sáng nay về văn bản ông ký mới đây.

Văn bản số 2998 của Bộ GD-ĐT gửi các tỉnh, thành về kỳ thi tốt nghiệp THPT, tuyển sinh ĐH, CĐ năm 2013 nêu rõ Chủ tịch tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo các cơ quan truyền thông trao đổi kỹ với cơ quan chức năng trước khi cho đăng tải các thông tin nhạy cảm như lộ đề thi, tiêu cực trong kỳ thi...

Việc "chỉ đạo" báo chí ở đây là "chỉ đạo" theo hướng gì, thưa Bộ trưởng?

Chỉ đạo là trao đổi kỹ với cơ quan chức năng trước khi đăng tin để tránh việc nghe một cái là đăng, đăng không đúng. Ý nói là trước khi anh đăng, hoặc nghe thông tin như học sinh nói có lộ đề toán, lý thì mình trao đổi với các cơ quan xem thông tin như thế có đúng không. Cân nhắc đúng rồi thì các bạn đăng, chứ đừng có nghe phản ánh là đăng mà không thẩm tra.

Bộ trưởng GD-ĐT Phạm Vũ Luận: Không có lý gì không phối hợp với báo chí. Ảnh: Lê Anh Dũng

Vừa rồi có những thông tin công bố có đúng đâu như thông tin bảo lộ đề báo động rất nhiều nhưng cuối cùng thẩm tra không phải.

Không bao che

Đầy đủ nội hàm chỉ đạo của Bộ trưởng về vấn đề này cho chủ tịch các tỉnh, thành là thế nào?

Đề nghị các cơ quan thông tin trao đổi với nhà trường, công an, Bộ để phối hợp điều tra khi phát hiện thông tin liên quan tiêu cực thi cử. Khi có căn cứ thì hãy đưa tin.

Vai trò chủ động là báo chí. Nếu cơ quan liên quan không phối hợp thì báo chí công bố luôn thông tin cơ quan đó không phối hợp. Chúng tôi hoan nghênh báo chí phản ánh thông tin tiêu cực, như vụ Đồi Ngô chẳng hạn. Các bạn có chứng cớ đúng rồi là thông tin. Nhưng nếu chưa xác minh được thì không nên, mà cần trao đổi cho kỹ để có đúng thông tin.

Chúng tôi còn khuyến khích học sinh mang cả máy quay để cung cấp chứng cớ nếu thấy có tiêu cực. Không có giới hạn gì cả với báo chí. Thậm chí nếu phản ảnh với trường, Bộ, chỗ nào nhận tin mà không xử lý thì đăng luôn. Qua đó tạo sức ép xã hội đấu tranh tiêu cực.

Chỉ đạo là đề nghị với báo chí đưa tin cân nhắc, thận trọng. Vừa rồi thông tin một cháu đưa lên mạng lộ đề này từ giờ này giờ kia. Thẩm tra kỹ các bạn sẽ thấy ngay, nhưng không thẩm định gì cả. Nó không có lợi, nhất là chiều các cháu còn làm bài, mai còn làm bài.

Trao đổi kỹ, thẩm định đúng rồi thì đưa tin. Trao đổi kỹ với công an, thanh tra của chúng tôi phối hợp điều tra, xác minh để bóc tách, xử lý. Chúng tôi không bao che. Kể cả cơ quan Bộ ai nhận không làm cũng nêu. Chúng ta làm một cách có trách nhiệm để đảm bảo cho môi trường thi yên tĩnh, không để thông tin của người hoặc vô tình, hoặc cố ý làm mất ổn định môi trường thi cử.

Thưa Bộ trưởng, dư luận quan tâm công văn vì trước đây có thông tư về tố cáo không có hiệu lực tố cáo?

Cái ý này khác. Chúng tôi sửa ngay rồi. Còn lần này các bạn đọc thấy là chỉ đạo các tỉnh đề nghị các cơ quan báo chí trao đổi kỹ với cơ quan có trách nhiệm trước khi đăng tin, để cân nhắc, định hướng.

Trong họp cơ quan, tôi nói cho đến thời điểm này, tất cả tiêu cực phát hiện được đều từ báo chí. Không có lý gì không phối hợp với báo chí.

Bảo vệ học sinh đấu tranh chống tiêu cực

Năm nay là năm đầu tiên ngành giáo dục thực hiện phòng chống gian lận thi cử bằng việc cho phép mang thiết bị ghi hình vào để ghi chứng cứ. Đánh giá của Bộ trưởng về tác động của biện pháp này?

Trước hết là tác động về mặt tâm lý. Tất cả quy chế cho đến thời điểm hiện nay đều với một giả thiết là thầy giáo và cán bộ quản lý tốt đi giám sát học sinh cho nghiêm chỉnh. Nhưng thực tế có thầy giáo, cán bộ quản lý chỉ đạo cũng có vi phạm. Quy chế hiện nay chưa có giám sát đối tượng này, mới chỉ có cách ly vòng ngoài, vòng trong. Học sinh cũng là chủ thể của nhà trường, cũng có thể có gian lận, vi phạm, nhưng nhiều cháu trung thực, đấu tranh thì mình không có lý gì không sử dụng lực lượng ấy.

Cho nên thầy cô giáo cũng cảm thấy trên đầu anh có cái camera vô hình nào đấy, thì anh phải nghiêm chỉnh. Các cháu học giỏi mình biểu dương, các cháu trung thực, nhặt được của rơi trả cho người mất, giúp đỡ bạn bè, giờ đấu tranh chống tiêu cực thì mình phải động viên, bảo vệ các cháu. Điều này có giá trị vô hình. Tôi được phản ánh, ít nhất cô giáo không đứng tụm nói chuyện, không ra hành lang nói chuyện với giám thị hành lang. Như thế việc này có tác dụng ngay. Có sự giám sát đối với lực lượng thực thi công vụ. Chứ không phải chỉ lực lượng thực thi công vụ giám sát các cháu.

Linh Thư

VietnamNet

Ảnh: 
Chuyên mục chính: 
Nghề báo

Link to full article

"Nói với mình và các bạn": Mặt trái của biểu tình


Dưới đây là bài viết thứ 9 trong loạt bài “Nói với mình và các bạn: Vẻ đẹp của chính trị”. Mục đích mà loạt bài hướng tới là góp phần giúp độc giả, nhất là các bạn trẻ, hiểu hơn về chính trị, về sự tham gia, về tự do ngôn luận và sự phân biệt giữa tự do ngôn luận với xúc phạm người khác, về hiến pháp, quyền lập hiến và quyền tẩy chay hiến pháp, bất tuân dân sự, về kỹ thuật bầu cử và làm thế nào để có bầu cử tự do, công bằng.

Ở bài trước, chúng ta đã nói rằng văn hoá chính trị là cái quyết định một xã hội nhìn chung sẽ có thái độ như thế nào trước các hoạt động chính trị như biểu tình, đình công, kiện tụng… Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận rằng biểu tình có những mặt trái của nó. Làm thế nào để giảm thiểu tác hại tiêu cực của biểu tình đây?

Phạm Đoan Trang

 
* * *

Kỳ 9

MẶT TRÁI CỦA BIỂU TÌNH

Một trong những mặt trái của biểu tình – và nó càng trở nên nghiêm trọng trong văn hoá chính trị “phản biểu tình” của Việt Nam – là sự cản trở tự do đi lại. Vì “phố phường chật chội, người đông đúc”, biểu tình có nguy cơ gây ảnh hưởng đến giao thông, mà đấy là người biểu tình ở nước ta còn chưa sử dụng biện pháp phong toả đường đi lối lại, cắm trại, dựng rào v.v. đấy nhé. 

Ở một quốc gia dân chủ, với văn hoá chính trị thừa nhận và ủng hộ biểu tình, thì để vừa đảm bảo quyền tự do biểu đạt của nhóm người biểu tình, vừa đảm bảo quyền tự do đi lại của những người khác, chính quyền sẽ phải có các biện pháp như bố trí lực lượng hỗ trợ người biểu tình (dẹp đường, hướng dẫn giao thông...), đảm bảo những không gian công cộng thích hợp cho việc biểu tình. Ở Việt Nam thì khác: Chính quyền gộp tất cả những người đi biểu tình vào một rọ, gồm các “đối tượng” hoặc là phản động nhân danh yêu nước, hoặc là bị bọn phản động lợi dụng, lôi kéo. Từ quan niệm đó đến hành động cụ thể như thế nào thì chúng ta đều đã biết, nên người viết sẽ không “kể lể” thêm, mà sẽ bàn về các trường hợp có mâu thuẫn, xung đột thật sự liên quan đến biểu tình, ở phần tiếp sau.

“Ông Nguyễn Sinh Hùng và thế lưỡng nan”

Biểu tình hoàn toàn có thể cản trở nghiêm trọng quyền tự do đi lại của một cá nhân cụ thể. Ví dụ, đó là khi những người biểu tình chặn cổng Văn phòng Quốc hội, không cho ông Nguyễn Sinh Hùng ra đường khi đã hết giờ làm. (Xin các bạn lưu ý, đây chỉ là một ví dụ giả tưởng, trên thực tế bản thân người viết cũng không biết chính xác ông Nguyễn Sinh Hùng làm việc ở đâu). Trong trường hợp này, chúng ta đối diện với một thứ mà các nhà khoa học ưa gọi là “thế lưỡng nan”: 

  • Vì ông Nguyễn Sinh Hùng là Chủ tịch Quốc hội, là quan chức, cho nên ông có nghĩa vụ phải lắng nghe ý kiến của người dân, tôn trọng quyền tự do biểu đạt và biểu tình của công dân;
  • Vì ông Nguyễn Sinh Hùng là một công dân Việt Nam, nên ông có quyền riêng tư, quyền tự do đi lại, tự do về thân thể, và ông phải được đi đâu tuỳ ý sau khi đã hết giờ làm việc. Do đó, khi bị cản trở tự do đi lại, ông có quyền khởi kiện. 

Trên giác độ luật pháp thuần tuý, công dân Nguyễn Sinh Hùng quả thật có thể kiện những kẻ đã xâm phạm quyền của ông. Tuy nhiên, trong văn hoá chính trị ở nhiều nước, người ta thường quan niệm lãnh đạo, quan chức là luôn phải ở một thế chịu thiệt thòi trước công luận hơn người dân, và sẽ rất nực cười nếu lãnh đạo, quan chức muốn “ăn thua đủ” với dân – cái này trong tiếng Việt gọi là “tiểu nhân”. Đương nhiên là ông Hùng có quyền kiện và có thể kiện, nhưng nếu ông làm thế thì sẽ rất buồn cười trong mắt các chính trị gia đồng nhiệm, đồng nghiệp của ông ở nước ngoài. 

Tương tự, chúng ta sẽ không thể thấy Tổng thống Clinton hay đảng Dân chủ tìm cách can thiệp, đóng cửa tờ báo nào dám bôi nhọ ông và chuyện tình ái, bồ bịch của ông. Tổng thống Bush cũng không thể truy tìm và khởi kiện kẻ nào dám vẽ bẩn vào ảnh ông rồi vác đi biểu tình, rồi đốt… Bởi vì văn hoá chính trị của người Mỹ, về căn bản, ủng hộ quyền tự do biểu đạt, ngôn luận của công dân và buộc lãnh đạo phải chấp nhận “chịu thiệt”, “tỏ ra quân tử” trong mắt dư luận. 

Bên cạnh đó, chúng ta cũng đừng quên rằng, trong các chế độ dân chủ, ghế của quan chức phụ thuộc vào lá phiếu của người dân, nên quan chức có xu hướng nhượng bộ trước những phản ứng của người dân và tìm cách thuyết phục họ, chứ không dám đối đầu.

Nếu chúng tôi thích “biểu tình chống biểu tình”, thì sao?

Trường hợp nói trên là khi biểu tình cản trở quyền tự do đi lại của một cá nhân cụ thể - một quan chức. Còn trường hợp sau đây hơi khác. 

Giả sử sau khi Trung Quốc ra lệnh cấm đánh bắt cá trên vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa, người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Việt Nam chỉ nói vài câu phản đối như thường lệ. Giả sử khoảng 300 người ở quận Nhất, TP.HCM nổi giận – trong đó một nửa phẫn nộ với Trung Quốc, một nửa bất mãn về chính sách ngoại giao của Chính phủ Việt Nam – và họ xuống đường biểu tình. Giả sử cùng lúc, có khoảng 300 người dân ở quận Hai, TP.HCM lại suy nghĩ ngược lại hoàn toàn – một nửa trong số họ cho rằng Trung Quốc cấm đánh bắt cá là đúng (cần phải bảo vệ và khai thác tiết kiệm tài nguyên thuỷ hải sản chứ, bất luận tài nguyên ấy của quốc gia nào), một nửa ủng hộ chính sách ngoại giao của Việt Nam (phản ứng ở mức độ như người phát ngôn đã phản ứng thôi chứ còn làm gì hơn được nữa).

Câu hỏi đặt ra là: 300 người ở quận Hai có thể đi biểu tình phản đối 300 người ở quận Nhất không? 

Câu trả lời: Có, nếu như đúng là tất cả công dân Việt Nam đều được hưởng quyền tự do ngôn luận và tự do tụ tập.

Vậy sẽ ra sao nếu trên đường phố, các nhóm cư dân bất đồng quan điểm cứ biểu tình qua lại như thế? 

Chẳng sao cả, chuyện đó là… bình thường trong một xã hội dân chủ, có nền văn hoá chính trị thiên về các giá trị dân chủ, tự do, nhân quyền. Có điều, trong mọi trường hợp, bạo lực phải bị lên án và loại bỏ; xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác là một tội có thể bị kiện và bị xử lý theo pháp luật. Khi ấy, vai trò của luật pháp và của Nhà nước càng trở nên quan trọng hơn trong việc bảo vệ quyền tự do ngôn luận và tụ tập của các bên, quyền tự do đi lại của những người khác, giữ gìn trật tự trị an và điều hoà các lợi ích mâu thuẫn. Việc này, tất nhiên, chưa bao giờ dễ dàng.

Vai trò của lực lượng công an là bảo vệ người biểu tình chứ không phải là vật người biểu tình như thế này. 
Ảnh: Một dân phòng (hoặc công an mặc thường phục) đánh biểu tình viên Phan Nguyên, ngày 12/6/2011.

Tuy nhiên, bạn cần lưu ý một điểm quan trọng: Sẽ là một nhà nước lưu manh, phản động, nếu chính nhà nước bí mật tổ chức cho một nhóm trong xã hội chuyên đi “biểu tình chống biểu tình”. Nói cách khác, nếu chính quyền dùng tiền ngân sách, dùng quyền lực của lãnh đạo, để huy động lực lượng “phản biểu tình”, “đấu tranh với các luận điểm sai trái, thù địch” của một số công dân, mà thực chất là tấn công vào quyền tự do ngôn luận của những công dân ấy, thì đó là biểu hiện của một nhà nước độc tài đáng ghê tởm. 

Khi văn hoá chính trị khó chấp nhận biểu tình

Ở đâu cũng vậy, biểu tình có những hành động đặc thù như gây tiếng ồn, phong toả đường đi lối lại, thậm chí có khi còn kéo theo bạo lực – giữa công an, cảnh sát với những người tuần hành, hoặc giữa chính những người dân với nhau, nhóm phản đối gây lộn với nhóm ủng hộ như trong ví dụ giả tưởng nêu trên. Đó chính là các mặt trái của biểu tình, và trong văn hoá chính trị của Việt Nam thì những hạn chế đó càng bị khuếch đại: Bạn hãy hình dung một nơi đường phố chật hẹp, bụi bặm, vỉa hè là không gian kinh doanh (mà đoàn người đi biểu tình có thể gây ảnh hưởng đến việc kinh doanh đó), và đa số dân chúng thì tới gần 70 năm nay không có ý niệm nào về việc “tự nhiên ra ngoài đường hò hét”.

Liệu văn hoá chính trị như thế có tạo ra một môi trường tâm lý-xã hội ủng hộ biểu tình và các hoạt động chính trị khác không? Chúng ta thấy ngay là không. 

Vậy khi văn hoá chính trị về cơ bản là chống lại việc biểu tình, thì một số ít người muốn thể hiện chính kiến thông qua hành động biểu tình có thể và nên làm gì? Có nên hò hét, chửi bới kể tội “phe kia”, đốt cờ/ảnh, phong toả đường xá v.v.? Chúng ta sẽ tiếp tục vấn đề gây tranh cãi này ở kỳ sau, với câu chuyện về một hình thức hoạt động chính trị khác, xuất phát từ một phương pháp đấu tranh của vị anh hùng dân tộc Ấn Độ Mahatma Gandhi: bất tuân dân sự.

Kỳ sau: Bất tuân dân sự hay phản động?

 
Link to full article

Mở cuốn sách bí mật sự sống

60 năm ngày khám phá ADN - Kỳ cuối:

Mở cuốn sách bí mật sự sống

TTCT - Cuộc đua tìm kiếm cấu trúc của ADN đầu những năm 1950 diễn ra ít nhất giữa bốn nhóm nghiên cứu tại các trường đại học nổi tiếng, đó là Linus Pauling ở Viện Công nghệ California, Maurice Wilkins và Rosalind Franklin ở Đại học King’s College London, James D. Watson cùng Francis Crick ở phòng thí nghiệm Cavendish, Đại học Cambridge.




Rất nhiều ứng dụng trong y sinh học xuất phát từ khám phá ADN - Ảnh: Science Daily

Đại cao thủ từ nước Mỹ

Trước đó, nhà hóa học danh tiếng Linus Pauling, giải Nobel hóa học năm 1954 và Nobel hòa bình năm 1962 (người duy nhất được hai giải Nobel nguyên vẹn cho đến nay), đã vượt lên nhóm các nhà khoa học ở Cambridge khi khám phá ra một số phân tử protein có cấu trúc xoắn.

Khi Pauling gửi đăng một bài báo khoa học để xuất bản vào đầu năm 1953, trong đó ông cho rằng cấu trúc của ADN là xoắn ba (có thể hình dung sơ bộ như kiểu bện thừng hay tóc tết đuôi sam) thì trưởng phòng thí nghiệm Cavendish đã thấy được sự cấp bách nên cho phép Watson và Crick được dành toàn thời gian để nghiên cứu cấu trúc ADN.

Trong giả thiết của Pauling, ADN không chỉ có cấu trúc xoắn ba, mà các bazơ còn hướng ra ngoài. Điều này không chính xác, như sẽ thấy sau này. Nhưng rõ ràng Pauling đã rất gần đích đến. Với trí tuệ siêu việt, chắc chắn Pauling sẽ nhìn ra sai sót của mình để hiệu chỉnh. Watson và Crick biết rất rõ điều này và ước tính Pauling sẽ chỉ cần sáu tuần để hoàn thành việc đó. Vì thế, họ phải chạy nếu muốn vượt lên, phần vì nhìn thấy sự quá gấp gáp của cuộc đua tranh, phần vì viễn cảnh chiến thắng nhà bác học nổi tiếng là vô cùng hấp dẫn.

Điều bất lợi lớn của Pauling là ông không có các dữ liệu về nhiễu xạ tia X để từ đó phán đoán cấu trúc của ADN. Những dữ liệu thực nghiệm này lúc đó nằm ở King’s College London. Tuy nhiên, năm 1952, Wilkins và trưởng phòng thí nghiệm ở King’s College đã từ chối cho Pauling xem các bức ảnh nhiễu xạ đó.

Sau đó, ông lên kế hoạch sang London dự một hội thảo khoa học, dường như để tiếp cận các bức ảnh nhiễu xạ này qua các trao đổi cá nhân, thì rủi thay Ủy ban điều tra về các hoạt động không trung thành với nước Mỹ của nghị viện (House Un-American Activities Committee) đã không cho phép ông đến London dự hội thảo, do trước đó ông đã tham gia các hoạt động phản đối chiến tranh.



Bức ảnh nhiễu xạ tia X số 51 nổi tiếng của Franklin cho biết cấu trúc của ADN

Câu chuyện ở King’s College

Trong khi đó, ở King’s College London, câu chuyện về việc đua tranh tìm ra cấu trúc của ADN đang diễn ra rất gay cấn giữa Wilkins và Franklin. Tuy là đồng nghiệp nhưng do không hòa hợp với nhau, xuất phát từ cá tính khác nhau và sự phân công công việc không rõ ràng của John Randall, giám đốc phòng nghiên cứu vật lý - y sinh, nên Wilkins và Franklin đã làm thực nghiệm về nhiễu xạ tia X của ADN độc lập với nhau.

Trước đó, từ tháng 5-1950, Wilkins và Raymond Gosling đã làm thực nghiệm về đo nhiễu xạ tia X với ADN và thu được một số kết quả đáng khích lệ. Tuy nhiên, sau khi Franklin chuyển đến, Randall lại phân công Franklin phụ trách việc này, đồng thời hướng dẫn Gosling tiếp tục công việc. Như vậy Randall đã chỉ định Franklin thay thế công việc của Wilkins mà không nói cho ông biết. Lý do vì Franklin được coi là chuyên gia duy nhất về nhiễu xạ tia X để nghiên cứu cấu trúc các phân tử sinh học trong nhóm vật lý - sinh học lúc đó.

Nhờ có kỹ năng tốt về thực nghiệm và cải thiện được kỹ thuật chuẩn bị mẫu nên Franklin thu được những kết quả rất tốt. Nhưng khi Wilkins hỏi về cách cải thiện kỹ thuật chuẩn bị mẫu, Franklin đã từ chối và tỏ ra mình mới là người giỏi hơn, tạo ra căng thẳng trong quan hệ cá nhân của hai người.

Với những kết quả thực nghiệm mới, Franklin phát hiện tùy theo mức độ ngậm nước, ADN tồn tại hai dạng A và B. Khi ướt, ADN ở dạng A, mỏng và dài. Còn khi khô, ADN ở dạng B, mập và ngắn. Do mâu thuẫn cá nhân giữa Wilkins và Franklin khá căng thẳng nên Randall đã phải phân chia lại công việc: Franklin chọn dạng A, dạng có vẻ như giàu dữ liệu hơn, còn Wilkins tập trung vào dạng B, vì trước đó ông đã làm các nghiên cứu về ADN ở dạng này.

Wilkins, xuất phát từ các kết quả mình nghiên cứu trước đó, luôn cho rằng ADN có cấu trúc xoắn. Đến cuối năm 1951, nhóm nghiên cứu ở King’s College đã gần như chắc chắn ADN có cấu trúc xoắn. Tuy nhiên, sau khi chụp một ảnh nhiễu xạ bất đối xứng vào tháng 5-1952, Franklin đã nghi ngờ cấu trúc xoắn này và trêu chọc Wilkins bằng cách viết một “cáo phó” về cấu trúc xoắn của ADN. Tuy nhiên, chính Franklin đã thay đổi quan điểm sau khi có các kết quả đo đạc tiếp theo.



Cấu trúc ADN từ các nghiên cứu hiện đại

Câu chuyện ở Cambridge

Trong khi đó ở Cambridge, Watson và Crick đang bận rộn với việc xây dựng mô hình về cấu trúc phân tử ADN, phần lớn dựa vào sự mò mẫm và suy luận từ các giả định, dữ liệu và kết quả của nhóm nghiên cứu khác. Đến Cambridge năm 1951 khi mới 23 tuổi, Watson đã gặp Crick, lúc đó 35 tuổi, đang nghiên cứu về cấu trúc của protein. Đây dường như là cuộc gặp mặt định mệnh của họ.

Gần như ngay lập tức, cả hai đều chia sẻ nhận định rằng chính cấu trúc của ADN là câu hỏi lớn nhất của ngành sinh học lúc bấy giờ. Họ thường xuyên thảo luận và phản biện, bổ sung cho nhau hầu tìm ra cấu trúc của ADN. Và tất nhiên là tích cực theo dõi các kết quả thực nghiệm và công bố của các nhà khoa học khác.

Một trong những mốc quan trọng là năm 1952, trong một lần đến Cambridge, Erwin Chargaff, nhà hóa sinh của Đại học Columbia, đã giải thích cho Watson và Crick về kết quả thực nghiệm của mình rằng dù có tỉ lệ khác nhau trong các ADN khác nhau, nhưng các cặp phân tử nucleotide luôn cặp đôi và có tỉ lệ bằng nhau, đó là: adenine với thymine (A-T) và guanine với cytosine (G-C) (còn gọi là cặp đôi G-X trong phiên âm của nhiều tài liệu tiếng Việt).

Ngày 30-1-1953, Watson đến King’s College, mang theo bản thảo của bài báo Pauling gửi đăng, trong đó có mô tả về cấu trúc xoắn ba của ADN. Vì Wilkins, một người bạn của Watson, đi vắng, nên Watson đã đến gặp Franklin và thuyết phục hợp tác trước khi Pauling tìm ra sai sót của mình. Nhưng Franklin không bị thuyết phục, thậm chí nổi giận khi Watson cho rằng bà không biết cách khai thác dữ liệu. Không còn cách nào khác, Watson đành trở lại gặp Wilkins. Thông cảm với bạn, Wilkins đã cho Watson xem tấm ảnh nhiễu xạ tia X (số 51) của Franklin mà không hỏi ý kiến của bà.

Khi nhìn thấy tấm ảnh thực nghiệm này, ngay lập tức Watson tìm thấy thứ mình cần như ông kể lại: “Ngay khi nhìn thấy phổ nhiễu xạ, tôi há hốc mồm và tim đập thình thình” (1).

Trong khi đó, đến khoảng cuối tháng 2-1953, Franklin, bằng việc phân tích các bức ảnh nhiễu xạ của mình, đã đến rất gần đích về một cấu trúc đúng của ADN. Tuy nhiên, ở King’s College lúc đó Franklin bị phân biệt đối xử rất mạnh, có thể do cá tính của bà hoặc do bà là phụ nữ trong một môi trường học thuật đỉnh cao nhưng không khích lệ nữ giới tham gia.

Lúc đó, phụ nữ ở đây không được tham gia một số thảo luận khoa học và không được vào phòng ăn chung. Do đó bà quyết định chuyển đến Đại học Birkbeck. Trước khi đi, bà đã bàn giao lại các tấm ảnh nhiễu xạ của mình cho Wilkins, vì Randall muốn các nghiên cứu về ADN phải ở lại King’s College.

Cũng trong tháng 2-1953, Watson và Crick bắt tay vào xây dựng mô hình cấu trúc của ADN. Trên cơ sở các dữ liệu nhiễu xạ tia X của Wilkins và Franklin mà ông đã thấy và tham chiếu ý tưởng của các nhà khoa học khác, cấu trúc của ADN ngày càng rõ dần. Với Watson, những chấm nhiễu xạ tạo thành hình chéo này có nghĩa rằng ADN phải có cấu trúc xoắn kép.

Và bằng kiến thức về cấu trúc tinh thể, khi phân tích dữ liệu về tính đối xứng của tinh thể ADN, Crick biết rằng hai chuỗi xoắn đơn của ADN phải chạy theo hai chiều ngược nhau. Kết hợp với kiến thức về sự cặp đôi của các phân tử A-T và G-C trước đó, họ đã xây dựng được mô hình hoàn chỉnh về cấu trúc của ADN và mô tả chính xác cách thức liên kết, góc xoắn của chuỗi xoắn kép này.



Tìm ra cấu trúc xoắn kép của ADN giúp mở cuốn sách bí mật sự sống cho nhân loại - Ảnh: Nature.com

Eureka: Bí mật hé lộ!

Ngày 28-2-1953, Crick thông báo trong một quán rượu nhỏ rằng họ đã tìm ra “bí mật của sự sống”, nhưng mô hình về cấu trúc của ADN chỉ thật sự được họ hoàn thiện vào ngày 7-3-1953. Tuy nhiên, trước đó một ngày, bản thảo bài báo của Franklin về cấu trúc của ADN dạng A đã kịp đến tòa soạn Acta Crystallographica, tức là Franklin đã viết trước khi mô hình về cấu trúc ADN của Watson và Crick được dựng lên.

Ngày 18-3-1953, khi nhận được bản thảo về bài báo của Watson và Crick, chính là bài báo nổi tiếng đăng trên Nature, Wilkins đã trả lời: “Tôi nghĩ hai cậu đúng là một cặp cáo già, nhưng rất có thể các cậu sẽ có thu hoạch tốt từ vụ này (2)”. Và phán đoán của Wilkins đã đúng, khi Watson và Crick đã được trao giải Nobel năm 1962 cho khám phá này.

Câu chuyện về cấu trúc ADN như vậy đã rõ ràng. Vấn đề còn lại là công bố chính thức ra sao. Dưới sự thỏa thuận của các lãnh đạo phòng thí nghiệm và các tác giả, ba bài báo của nhóm Watson và Crick, Wilkins, Franklin được công bố đồng thời trong số tạp chí ra ngày 25-4-1953 của Nature. Theo đó, dường như bài báo của Watson và Crick được bố trí như là bài về lý thuyết, còn bài của Wilkins và Franklin như là các bài có tích cách thực nghiệm minh họa cho bài lý thuyết của Watson và Crick.

Trong bài báo của mình, Watson và Crick đã viết rằng: “Chúng tôi đã thấy rằng cách thức cặp đôi mà chúng tôi đề xướng ngay lập tức gợi mở một cơ chế nhân bản trong các vật liệu di truyền (3)”.

Như vậy, cấu trúc chuỗi xoắn kép do Watson và Crick tìm ra đã giải thích được cơ chế truyền thông tin di truyền trong các cơ thể sống. Sự cặp đôi của các phân tử bazơ cho biết cách thức thông tin được copy, còn trình tự các bazơ lại là đặc trưng nhận biết của chuỗi các amino axit trong protein. Kỳ diệu hơn, các phân tử ADN này có thể tách ra thành hai chuỗi xoắn đơn riêng biệt và sau đó nhân bản thành hai ADN giống hệt nhau. Cơ chế truyền tin trong tế bào, tức cơ chế di truyền, đã trở nên rõ ràng.

Sự tìm ra cấu trúc xoắn kép của ADN được ví như việc tìm ra định luật II trong cơ học của Newton. Đó thật sự là một cuộc cách mạng trong khoa học. Cuốn sách về bí mật sự sống lần đầu tiên được mở ra cho nhân loại.

Để ghi nhận đóng góp của các nhà khoa học, giải Nobel y học năm 1962 đã được trao cho Watson, Crick và Wilkins. Franklin đã mất trước đó bốn năm do bị ung thư nên không được xét trao giải, nhưng đóng góp của bà cho việc khám khá cấu trúc của ADN có lẽ không hề nhỏ hơn ba nhà khoa học đã được nhận giải Nobel năm 1962.

ADN ngoại truyện

Ngoại truyện thứ nhất là công trình khám phá cấu trúc của ADN - một lĩnh vực thuộc ngành sinh học - lại được tiến hành phần nhiều bởi các nhà vật lý. Điều này không phải ngẫu nhiên vì trước đó cuốn sách Sự sống là gì? của Erwin Schödinger đã tạo cảm hứng, và phần nào dẫn dắt các nhà vật lý tham gia khám phá những bí mật của sự sống, tạo tiền đề cho sự ra đời của một ngành khoa học rất phát triển sau này, đó là ngành vật lý - sinh học (Biophysics).

Truyền thống này được tiếp nối mãi về sau, chẳng hạn Walter Gilbert, người đã chuyển từ nghiên cứu vật lý lý thuyết sang sinh học phân tử và đã được trao giải Nobel hóa học năm 1980 cho công trình nghiên cứu về cấu trúc và xác định trình tự ADN của mình.

Ngoại truyện thứ hai là vai trò của John Randall, giám đốc trung tâm nghiên cứu vật lý - y sinh nơi Walkins và Franklin làm việc. Ông là người chỉ đạo các nghiên cứu về cấu trúc của ADN. Như vậy, rõ ràng ông là người có tầm nhìn dẫn dắt và có đóng góp to lớn cho các nghiên cứu tìm ra cấu trúc ADN. Nhưng dường như công trạng của ông đã không được ghi nhận đúng mức trong việc này.

Ngoại truyện thứ ba có thể được coi như một góc khuất trong cuộc chạy đua khám phá cấu trúc ADN, liên quan đến vai trò của Franklin, vì đóng góp của bà dường như đã không được ghi nhận đúng mức. Trong bài báo của mình, Watson và Crick đã phủ nhận việc tham khảo kết quả thực nghiệm của Wilkins và Franklin trong việc xây dựng mô hình cấu trúc ADN (4).

Điều này bị nhiều nhà khoa học cho là không trung thực và khó chấp nhận, và thường xuyên bị nêu ra như một trường hợp cần thảo luận trong các khóa học về đạo đức khoa học. Ngoài ra, việc Wilkins cho Watson xem tấm ảnh nhiễu xạ số 51 của Franklin mà không được phép của bà liệu có phải là vi phạm đạo đức khoa học? Tại sao Wilkins lại làm vậy? Và nếu không có tấm ảnh này, liệu Watson và Crick có tìm ra cấu trúc của ADN?

Những câu hỏi này đã làm đau đầu các nhà nghiên cứu trong hàng thập kỷ và sẽ tiếp tục bị mổ xẻ. Nhưng lịch sử không lặp lại và không có chữ nếu, nên mọi câu trả lời được đưa ra chỉ là giả định. Tuy nhiên, có một điều chắc chắn, cho đến đầu năm 1953, trong cuộc đua rất gay cấn, cả bốn nhóm nghiên cứu đã rất gần đích đến, và vì thế việc khám phá cấu trúc của ADN sớm hay muộn thì cũng là một điều chắc chắn.

GIÁP VĂN DƯƠNG

___________

(1) Nguyên văn: The instant I saw the picture my mouth fell open and my pulse began to race - James D. Watson (1968), The Double Helix, trang 167.
(2) Nguyên văn: I think you’re a couple of old rogues, but you may well have something.
(3) Nguyên văn: It has not escaped our notice that the specific pairing we have postulated immediately suggests a possible copying mechanism for the genetic material. Cụm từ “It has not escaped our notice” được coi là một trong những câu nói giảm lớn nhất trong khoa học.
(4) Nguyên văn: We were not aware of the details of the results presented there when we devised our structure, which rests mainly though not entirely on published experimental data and stereochemical arguments.

Link to full article